Có phải lý tưởng của các nhà báo Việt Nam lưu vong trở nên quá mờ đục và mục nát?

NGUYỄN THIẾU NHẪN 

CÓ PHẢI LÝ TƯỞNG CỦA NHỮNG NHÀ BÁO VIỆT NAM LƯU VONG
TRỞ NÊN QUÁ MỜ ĐỤC VÀ MỤC NÁT? (Bài 1)

“Ủy ban Bảo vệ Nhà báo (Committee To Protect Journalists viết tắt CPJ) là một tổ chức phi lợi nhuận độc lập thúc đẩy tự do báo chí trên toàn thế giới.

Mục đích hoạt động của CPJ là cổ xuý tự do báo chí trên toàn thế giới và bảo vệ quyền của nhà báo được hành nghề mà không sợ bị trả thù. CPJ bảo vệ tự do thông tin và và bình luận của ký giả bằng cách lên tiếng bất cứ khi nào báo giới bị tấn công, bị bỏ tù, bị ám sát, bị bắt cóc, bị đe dọa, bị kiểm duyệt, hay bị sách nhiễu.

Hàng trăm nhà báo đã bị giết, bị sách nhiễu, hoặc bị bỏ tù hàng năm. Trong 30 năm qua, Ủy ban Bảo vệ Nhà báo đã có mặt để bảo vệ ký giả trên toàn thế giới.

Tại sao CPJ bảo vệ các nhà báo? Báo chí đóng một vai trò quan trọng trong việc cân bằng quyền lực giữa chính phủ và người dân. Khi các nhà báo của một quốc gia bị bịt miệng, nghĩa la người dân mất tiếng nói. Bảo vệ các nhà báo là CPJ bảo vệ tự do ngôn luận và dân chủ.

Khi các phóng viên không thể nói, chúng tôi lên tiếng.

Cộng đồng người Việt hải ngoại nói chung, đặc biệt ở Hoa Kỳ, thường được thông tin đầy đủ về những người vận động cho dân chủ Việt Nam bị đàn áp tù đầy và họ thường được đón tiếp nồng hậu tại Hoa Kỳ khi đã thoát khỏi nhà tù ở Việt Nam. Những thí dụ gần đây như Điếu Cày Nguyễn Văn Hải, Tạ Phong Tần, thành viên của Câu lạc bộ Báo chí Tự do.

Nhưng ngay tại Hoa Kỳ, với Tu chính án Thứ nhất của Hiến Pháp Mỹ, ký giả Mỹ gốc Việt Nam dường như đã không được quan tâm và bảo vệ. Đặc biệt là ở những thập niên đầu tiên sau khi phải chạy trốn bạo lực của chế độ cộng sản, độc tài toàn trị, khi Saigon sụp đổ. Suốt những năm 1980, khi xảy ra những vụ hành hung, đe doạ, và ám sát. Báo chí tiếng Anh trong dòng chính ở Hoa Kỳ dường như không quan tâm đến những vi phạm thô bạo đến quyền tự do ngôn luận của các nhà báo, ký giả các đài phát thanh không viết, hay nói bằng tiếng Anh, dù đó là ký giả báo Hoa ngữ, báo tiếng Tây Ban Nha, tiếng Creole, hay báo tiếng Việt.

Đến tháng 12 năm 1994 Uỷ ban Bảo vệ Nhà báo tại New York đã phát hành bản báo cáo “SILENCED, The Unsolved Murders of Immigrant Journalists in the United States” công bố những vụ ám sát ký giả trong khoảng thời gian từ 1976 đến 1993. Liên quan đến những vụ ám sát 5 nhà báo Việt Nam (1981-1990), Mặt Trận Quốc Gia Thống nhất Giải phóng Việt Nam, gọi tắt là Mặt Trận (the Front) được nhắc đến rất nhiều lần.

  • 1991 điều tra của FBI cho thấy, một số thành viên ban lãnh đạo Mặt Trận trốn thuế, lấy quỹ Kháng chiến – nhiều triệu đô-la xin được trong những năm 1980 – làm của riêng.
  • 1994 Mặt Trận kiện nhà báo Nguyễn Thanh Hoàng vì tờ Văn Nghệ Tiền Phong năm 1990 đã đăng bài (của Cao Thế Dung) lên án Mặt Trận đã giết nhà báo Lê Triết và vợ ở Virginia.
  • Nhân viên điều tra cho CPJ biết: Một số nghi phạm trong các vụ ám sát có liên hệ với Mặt Trận thành lập từ năm 1981 tại San Jose.
  • Trong những năm 1980 Mặt Trận tổ chức những cuộc biểu tình phản đối chính sách khoan nhượng của Mỹ đối với cộng sản Việt Nam.
  • Mặt Trận chủ trương lật đổ chính phủ Việt Nam bằng quân đội và gây quỹ để lập đội quân kháng chiến trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt. Mặt Trận hoạt động mạnh ở California, Texas, Virginia. Dân chúng bị dán nhãn ủng hộ cộng sản nếu không đóng góp vào Quỹ Kháng Chiến. Mặt Trận tổ chức vận động quần chúng, ra báo Kháng Chiến, mở chuỗi tiệm ăn trên thế giới, có đội thuyền đánh cá.
  • 1984, Mặt Trận tuyên bố đã có hàng ngàn quân kháng chiến đặt căn cứ ở Thái Lan và Việt Nam.
  • 1985 xung đột nội bộ nổ trong Mặt Trận. Ông Phạm Văn Liễu cáo buộc ông Hoàng Cơ Minh và phe cánh đã lấy tiền Quỹ bỏ túi. Ông Liễu cũng nói quân kháng chiến của Mặt Trận ở Việt Nam là chuyện không có thật. Sự ủng hộ Mặt Trận sụp đổ trong cộng đồng người Việt hải ngoại.
  • 1987 ông Hoàng Cơ Minh chết trận trên đường đông tiến từ biên giới Thái Lan sang Lào. Hai mươi kháng chiến quân bị bắt giao cho Việt Cộng bỏ tù và tử hình. Mặt Trận vẫn công bố ông Hoàng Cơ Minh còn sống (suốt 14 năm sau đó).
  • Nhà chức trách và một số nguồn tin từ cộng đồng tin rằng sát thủ trong những vụ giết người có liên quan đến hai tổ chức cực hữu, tổ chức bí mật là Việt Nam Diệt cộng Hưng quốc Đảng (VNDCHQĐ)-VOECRN, tổ chức công khai là Mặt Trận.”

Những điều trên đây về những nhà báo bị khủng bố ám sát được CPJ viết trong bản báo cáo năm 1994.

William A. Orme Jr, Giám đốc điều hành của CPJ viết:

“Báo cáo hôm nay không phải là tiếng nói cuối cùng về đề tài này. Ngược lại, có nhiều lỏng lẻo trong những câu chuyện này, nhiều mâu thuẫn chưa đuợc giải quyết và trả lời và, trong một số trường hợp, một số câu đáng hỏi chưa được hỏi […].

Nhưng nếu không có những cuộc điều tra kỹ, chắc chắn những người chịu trách nhiệm về những tội ác sẽ không bao giờ được đưa ra ánh sáng công lý, và những nhà báo phục vụ những cộng đồng sắc tộc sẽ có lý do để đặt câu hỏi liệu họ có được hưởng sự bảo vệ pháp lý và hỗ trợ của các đồng nghiệp mà chúng ta trong giới truyền thông bằng tiếng Anh có lẽ thường coi là chuyện đương nhiên.”(*)

Như chúng ta đã biết, 21 năm sau khi bản báo cáo này được công bố, ngày 3 tháng 11 năm 2015, chương trình Frontline của truyền hình PBS hợp tác với ProPublica đã trình chiếu phim phóng sự điều tra “Khủng bố ở Sàigòn Nhỏ” (Terror in Little Saigon) cùng với bài viết đăng ở cả hai trang Web của PBS và ProPublica.

*

Nhà báo Juan Gonzalez, một bỉnh bút của New York Time và cũng là người đồng chủ trương chương trình truyền hình Democracy Now trong lời tựa của bản báo cáo CPJ, đã đặt câu hỏi với lương của tất cả những trong giới truyền thông:

“Có phải lý tưởng nghề báo của chúng ta trở nên quá mờ đục và mục nát đến nỗi những vụ các đồng nghiệp bị giết một cách vô cảm không còn làm chúng ta nổi giận hay có hành động?”  

Cái tựa bài viết này tôi không dám khẳng định về lý tưởng nghề báo của những nhà báo người Mỹ gốc Việt vì tôi có biết nhiều nhà văn, nhà báo người Mỹ gốc Việt đã lên tiếng về những cái chết của 5 nhà báo người Mỹ gốc Việt bị bọn khủng bố sát hại như các ký giả Nguyễn Đạt Thịnh, Bằng Phong Đặng Văn Âu...

Và vào năm 2013, nhà văn, nhà báo Sơn Tùng, cựu Chủ Tịch Văn Bút Việt Nam Hải Ngoại đã viết về cái chết của ông Đỗ Trọng Nhân, ông Lê Triết và vợ là bà Đặng Trần Thị Tuyết.

Theo nhà văn Sơn Tùng thì:

“Một thám tử của Đơn vị Chống Tội ác của Dân Á Châu (Asian Crime Unit) đã vào phòng làm việc của tôi và hỏi và hỏi có nghi ai không. Tôi trả lời ‘không’ và cho biết ông (Đỗ Trọng) Nhân chỉ làm công việc cắt dán, không viết bài, không phải ký giả. Người này nói:

-Đây có thể là một cảnh cáo của ‘Phở H.’ Các anh nên cẩn thận và cho chúng tôi biết khi có tin gì liên quan đến vụ này.
Ông ta đưa cho tôi một tấm danh thiếp mà tôi còn giữ đến hôm nay”.

Nhà văn Sơn Tùng cũng đã viết về cái chết của ông Lê Triết và vợ là bà Đặng Trần Thị Tuyết như sau:

“Rời toà soạn Văn Nghệ Tiền Phong không bao lâu, sáng sớm ngày  23-9-1990 tôi được bà Khúc Minh Thơ  gọi điện thoại báo tin ông Lê Triết và bà vợ (ĐTTT) đã bị ám sát chết tối hôm qua. Tôi hỏi tin ở đâu. Bà Thơ nói: ‘Anh Nguyễn Ngọc Bích cho hay.’

Tôi lặng người đi vài phút mới đứng dậy được. Sau khi thu lượm tin tức đầy đủ, đuợc biết tối hôm trước ông bà Lê Triết đi dự party ở nhà luật sư Đỗ Ngọc Phú, khi trở  đã về bị hung thủ bắn chết ngay tại chỗ đậu xe. Hung thủ đã chạy thoát trong một chiếc xe màu xanh.

Tôi rất ngạc nhiên vì biết từ nhiều năm nay, ông Lê Triết không ra khỏi nhà ban đêm, dù là đi dự tiệc cưới của người than. Ông biết ai thù oán mình và phòng thân rất cẩn trọng. Vậy thì tại sao cả hai ông bà lại đi chơi đến khuya và theo những người có mặt trong bữa tiệc thì ông bà Lê Triết rất vui và đang chuẩn bị cho một chuyến du lịch Âu Châu nhiều ngày. Kẻ nào, hay tổ chức nào, đã biết trước để lên kế hoạch ám sát họ?

Những câu hỏi này cho đến nay, 22 năm sau, vẫn chưa có lời giải đáp. Vì vụ án mạng đôi thảm khốc này đã bị “ướp lạnh” (clod case) trong tủ hồ sơ cảnh sát Mỹ dù họ đã mở cuộc điều tra ráo riết. Tất cả mọi người tham dự bữa tiệc ở nhà ông Phú hôm ấy đều được cảnh sát thẩm vấn. Vài người có liên hệ tới ‘Mặt Trận’ đã bị FBI hạch hỏi nhiều lần.

Do nguồn tin riêng, tôi được biết trước khi bị bắn chết không lâu, ông Lê Triết có gặp một cấp lãnh đạo của ‘Mặt Trận’ tại nhà một người bạn ở Maryland để hoà giải. Thật hay không, tôi không có điều kiện kiểm chứng.” (**)

*

Tôi không dám quơ đũa cả nắm để đặt vấn đề là “Có phải lý tưởng của những nhà báo người Mỹ gốc Việt đã quá mờ đục và mục nát đến nỗi những vụ các đồng nghiệp bị giết một cách vô cảm không còn làm chúng ta nổi giận hay có hành động?” – như nhà báo Juan Gonzalez đã đề tựa trong bản báo cáo năm 1994 của CPJ.

Nhưng, rõ ràng những nhà báo người Mỹ gốc Việt – những nhà báo tai to, mặt lớn – mà ông Bằng Phong (Đặng Văn Âu) gửi thư kêu gọi ông, bà nào cũng im hơi, lặng tiếng!

Những loại như nhà văn “Nhạc Bất Quần” Giao Chỉ Vũ Văn Lộc, “nhà báo buôn Vua” Huỳnh Lương Thiện là loại người:

“Trái tim để ở dạ dày
Đầu óc thì để ở kề hậu môn”

thì làm gì có lý tưởng. Không nên đặt vấn đề “lý tưởng” với những hạng người này cho nó phí thì giờ!


NGUYỄN THIẾU NHẪN

Tài liệu tham khảo:

(*) “Khủng bố ở Sàigòn Nhỏ P9 – Trần Giao Thủy

(**) Cái Nghiệp Văn Báo (2013) – Sơn Tùng

CÓ PHẢI LÝ TƯỞNG CỦA NHỮNG NHÀ BÁO VIỆT NAM LƯU VONG
 TRỞ NÊN QUÁ MỜ ĐỤC VÀ MỤC NÁT? (Bài 2 )

NGUYỄN THIẾU NHẪN

Cách đây 21 năm, vào ngày 3 tháng 2, 1994  Tổng thống Mỹ Bill Clinton bỏ cấm vận Việt Nam.

Ký giả khắp nơi trên thế giới đến Hà Nội để chứng kiến việc trao đổi thương mại giữa hai nước cựu thù. Nhưng ở Hà Nội lúc đó không có ký giả gốc Việt tị nạn nào dám có mặt để đưa tin.

Ông Đỗ Ngọc Yến (đã chết), chủ nhiệm tờ người Việt đã nói với ký giả Jeff Brody của tờ Orange County Register là ông không dám về Hà Nội vì tình hình chính trị ở… Quận Cam. Nhưng chỉ vài tháng sau, sự nghiệp báo chí của ông đã bị cơn gió chính trị ở California thổi dạt sang một bên.

Kể từ đó đến nay có mấy tờ báo quảng cáo dịch vụ gởi tiền, gởi hàng về Việt Nam, du lịch Việt Nam bị Việt Nam Diệt Cộng Hưng Quốc Đảng-VOECRN đốt? Zero.

Tháng 3, 1994, tạp chí “Người Việt Thế giới” (Viet & World) phát hành ở Mỹ, và Đức. Chủ bút là Sơn Điền Nguyễn Viết Khánh (đã chết). Một số thành viên Hội đồng quản trị của UniMedia Corp., cơ sở phát hành tờ “Người Việt Thế giới” là Lê Ngoan, Nguyễn Ngọc Linh, chủ bút tờ Vietnam Economic News ở Westminster, cựu giám đốc VNTTX trước 1975, Kiều Chinh, Đỗ Ngọc Yến Chủ nhiệm tờ Người Việt, Nhã Ca, Trần Dạ Từ của tờ Việt Báo.

Nhà báo Sơn Điền nói, tờ báo dự định “giới thiệu người Việt với nhau và cũng để nhắc chúng ta không bao giờ quên nguồn cội. Và chúng tôi mong càng có nhiều người đọc tờ báo này càng tốt.”
Nhã ca -Chủ nhiệm Việt Báo

Nhã Ca nói: (Nhã Ca. Nguồn: Việt Weekly)

“Trong mỗi chúng tôi, những người đã có kinh nghiệm bản thân với cộng sản, luôn luôn hiện hữu ý muốn trả thù. Nhưng chúng tôi không thể chuyển nỗi hận thù cay đắng của chúng tôi cho những thế hệ trẻ và mới sau này. Đó là một gánh quá nặng cho họ.”

Về mặt kinh tế, cộng đồng thương mại của người Việt ở California bị ảnh hưởng tiêu cực vì lệnh bỏ cấm vận Việt Nam của Tổng thống Mỹ đã phá vỡ nền kinh tế chợ đen chuyển tiền và hàng hoá từ đây về Việt Nam qua ngả Đài Loan, Thái Lan hay các nước thứ ba khác.

Một năm sau, tháng 9, 1994, ông Đỗ Ngọc Yến, phát biểu về chuyến đi Việt Nam của Bs Phạm Đăng Long Cơ và Phòng Thương Mãi Việt Nam ở Saigon Nhỏ:

“Chính trị chỉ là môn thể thao ở đây thôi. Người ta nói chuyện chính trị nhưng không tin những gì họ nói. Động lực chính ở đây thuần là thương mại. Ngay cả những người chống đối Bs Phạm Cơ, đa số là những bác sĩ cạnh tranh, lo ngại ông ấy sẽ thu tóm hết những H.M.O. ở vùng này. Đó không phải là chính trị. Nó thuần là thương mại thôi.”

Nhận định trên khiến tờ Người Việt bị biểu tình phản đối và đòi ông Đỗ Ngọc Yến phải từ chức. Ông Yến từ chức Chủ nhiệm nhưng vẫn là giám đốc phát hành, phụ trách quản trị tờ Người Việt.

11 tháng 7, 1995,  Tổng thống Mỹ Bill Clinton tuyên bố tái thiết bang giao Việt-Mỹ.

Đây là một cú sốc cho cộng đồng người Mỹ gốc Việt nói chung và với báo giới Việt ngữ nói riêng.

 

BTV Người Việt Hà Tường Cát. Nguồn: Người Việt.

Hà Tường Cát, biên tập viên báo Người Việt giọng run run nói:

“Đây là một vấn đề khó khăn. Chúng tôi đã cố gắng để phản ảnh cộng đồng, và cộng đồng ở đây rất nhậy cảm khi nói đến vấn đề này. Chúng tôi cần phải để có khả năng đưa tin về những điều mới và cần phải thông cảm với sự kiện trong quá khứ.” (Trích “Khủng bố ở Sàigòn Nhỏ -P9- Trần Giao Thủy)

*

Cũng trong năm 1994, Hội Bảo Vệ Các Nhà Báo tức Committee to Protect Journalists (viết tắt CPJ) công bố tài liệu “Silence in Little Saigòn: Five Vietnammese-American Journalists Killed”.

Hai mươi mốt năm sau, ngày 3 tháng 11 năm 2015 hãng truyền hình Frontline và ProPublica trình chiếu phim phóng sự “Terror in Little Sàigòn”.

Đảng Việt Tân (VT) và băng đảng của đảng này đã phản ứng cuống cuồng trước “ngọn lửa xuyên băng” do phóng viên AC Thompson đốt lên với mục đích khai quật lại vụ án 5 ký giả người Mỹ gốc Việt và một người là vợ của ký giả Lê Triết đã bị bọn khủng bố sát hại, đã bị chính quyền Hoa Kỳ cho “đông lạnh” trong hơn 20 năm qua.

Đây quả là “một cơ hội bằng vàng” để những nhà báo người Mỹ gốc Việt cũng như cộng đồng người Mỹ gốc Việt lên tiếng để đem lại công lý cho những người cầm bút đã hy sinh cả mạng sống của mình để cất lên tiếng nói của Lẽ Phải và Sự Thật, vốn là phẩm chất, lý tưởng mà bất cứ một người cầm bút chân chính nào cũng phải có.

Phần khác, để tranh đấu cho chính quyền Hoa Kỳ không còn coi những ký giả người Mỹ gốc Việt là “những công dân hạng hai!”

Trong bài 1, tôi đã lên tiếng chung chung.

Trong bài viết này, tôi xin được gửi ý kiến của tôi đến nhà văn Nhã Ca, nhà thơ Trần Dạ Từ, chủ nhiệm, chủ bút của nhật báo Việt Báo vì trước đây, nhị vị đã là “mẫu mực”, là “thần tượng” mà tôi đã cố noi gương khi hãnh diện tự khoe khoang: “cầm bút thay cầm súng để chống lại chủ nghĩa bạo tàn cộng sản (sic!)” (* xin xem phụ đính).

Phải thực lòng mà nói, tôi rất ngỡ ngàng khi nghe nhà văn Nhã Ca phát biểu:

“Trong mỗi chúng tôi, những người đã có kinh nghiệm bản thân với cộng sản, luôn luôn hiện hữu ý muốn trả thù. Nhưng chúng tôi không thể chuyển nỗi hận thù, cay đắng của chúng tôi cho những thế hệ trẻ và mới sau này. Đó là một gánh quá nặng cho họ.”

Lý do tôi ngỡ ngàng vì trước đó, tôi cũng đã từng nghe ông nhà văn Giao Chỉ tức cựu Đại Tá Vũ Văn Lộc, một người thường tự xem mình là lãnh tụ cộng đồng ở San J

NQĐ một ký giả người Mỹ gốc Việt của nhóm “Máu và Mực” đã cùng với tên tay sai VC Vũ Đức Vượng tổ chức cuộc hội thảo “Bể Dâu” cho các nhà văn Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Khởi Phong, Lê Minh Khuê, Hồ Anh Thái… hoà hợp hoà giải. Theo tôi được biết thì hiện nay Nguyễn Quý Đức đã về VN và mở quán cà phê để sinh sống.

Tôi không ngạc nhiên khi nghe Đại Tá Lộc tuyên bố; nhưng tôi rất ngỡ ngàng khi nghe nhà văn Nhã Ca tuyên bố như trên. Lý do là vì ông Đại Tá Lộc đâu có hận thù gì đâu mà bàn giao. Ông Đại Tá Lộc đâu có phải nhục nhã ngồi nghe những đứa gọi là “quản giáo” của bọn VC ngu dốt nó “lên lớp”. Bà Đại Tá Lộc đâu có phải trải qua thảm cảnh: “Đường xa lặn lội thăm chồng/Gói trong thịt cá nỗi lòng sượng trân” (thơ Hà Huyền Chi) – như bà nhà văn Nhã Ca đã phải trãi qua khi lặn lội thăm ông nhà thơ Trần Dạ Từ ở trại tù Gia Trung!

Nhưng thôi! Vì đó là quyền của bà nhà văn Nhã Ca!

Điều mà tôi ngạc nhiên, vô cùng ngạc nhiên là trước những cái chết oan khuất của 5 đồng nghiệp của mình lại không thấy bà nhà văn, nhà báo lớn của hải ngoại là bà Nhã Ca và ông Trần Dạ Từ lên tiếng lên, tăm gì!

Bà nhà văn Nhã Ca đã mở lòng độ lượng mà chích những “Giải Khăn Sô Cho Huế”, để hàng ngàn công nương Huế vơi đi những giọt nước mắt sầu thương!

Bà nhà văn Nhã Ca đã mở lòng độ lượng mà chích những “Giải Khăn Số Cho Huế” để hàng ngàn cái chết của những người dân vô tội trong thảm sát Tết Mậu Thân được ngậm cười nơi chín suối!

Nay, nỡ lòng nào bà nhà văn Nhã Ca lại không có chút thương xót nào cho những người đồng nghiệp của mình, những người vì thực hiện lý tưởng cao đẹp của nghề làm báo là can đảm nói lên Lẽ Phải và Sự Thật mà đã bị bọn khủng bố sát hại, hay sao?

Nếu là vậy, thì hoá ra lý tưởng của nghề báo của những nhà báo Việt Nam lưu vong đã trở nên quá mờ đục và mục nát – như nhà báo Juan Gonzalez đã đề tựa cho bản báo cáo của cơ quan CPJ năm 1994 là… sự thật!

Như vậy, câu tuyên bố năm nào của nhị vị:

“Sẽ viết, nhưng không phải ở đây!”

chỉ là tuyên bố cho vui?!

“Tôi đâu dám mỉa làng tôi nhỉ” (TX)?

CÓ PHẢI LÝ TƯỞNG CỦA NHỮNG NHÀ BÁO VIỆT NAM LƯU VONG
 TRỞ NÊN QUÁ MỜ ĐỤC VÀ MỤC NÁT? (Bài 3 )

– NGUYỄN THIẾU NHẪN –

Có thân hữu hỏi tôi: “Ông đã viết 2 bài với câu hỏi: ‘Có phải lý tưởng của những nhà báo Việt Nam lưu vong trở nên mờ đục và mục nát?’, chẳng thấy có ông bà nhà văn, nhà báo Việt Nam lưu vong nào trả lời, trả vốn là thế nào?” Xin thưa không có nhà văn, nhà báo VN lưu vong nào trả lời, trả vốn lý do rất dễ hiểu là họ không thể trả lời. Bởi lẽ, cái gọi là lý tưởng của họ không những trở nên “mờ đục và mục nát”, mà còn tệ hơn như thế nữa. Chữ dung chính xác nhất đối những những kẻ này là họ đã không có lý tưởng gì khi tự xưng mình là nhà văn, nhà báo; nhưng lại ngậm câm miệng hến khi phóng viên AC Thompson của truyền hình Frontline và ProPublica đưa ta trình chiếu phim phóng sự “Terror in Little Sàigòn” trên đài PBS vào ngày 3 tháng 11 năm 2015. Cuốn phim phóng sự “Khủng bố ở Sàigòn Nhỏ” dựa vào bản phúc trình của Hội Bảo Vệ Nhà Báo (CPJ) vào năm 1994 do William A.Orme J., Giám đốc điều hành CPJ công bố.

Mở đầu bản công bố, William A.Orme Jr. viết:

“Báo cáo hôm nay không phải là tiếng nói cuối cùng về đề tài này. Ngược lại, có nhiều lỏng lẻo trong những câu chuyện này, nhiều mâu thuẫn chưa được giải quyết và trả lời và, trong một số trường hợp, một số câu hỏi đáng hỏi chưa được hỏi.

Nhưng nếu không có những cuộc điều tra kỹ, chắc chắn những người chịu trách nhiệm về những tội ác sẽ không bao giờ được đưa ra công lý, và những nhà báo phục vụ những cộng đồng sắc tộc sẽ có lý do để đặt câu hỏi liệu họ có được hưởng sự bảo vệ pháp lý và hỗ trợ của các đồng nghiệp mà chúng ta trong giới truyền thông bằng tiếng Anh có lẽ thường coi là chuyện đương.”

Rõ ràng, trong hơn 33 năm qua, chính quyền Hoa Kỳ “đã coi 5 ký giả người Mỹ gốc Việt bị khủng bố sát hại chỉ là những công dân hạng hai”  – như lời nói đầu mà nhà báo William A.Orme Jr. đã viết.

Cuốn phim phóng sự “Khủng bố ở Sàigòn Nhỏ” của phóng viên AC Thompson và đạo diễn Rowley đưa ra thông điệp rất rõ ràng mà cộng đồng người Mỹ gốc Việt có thể dựa vào đó để tranh đấu tìm lại công lý cho những ký giả người Mỹ gốc Việt đã bị bọn khủng bố sát hại mà trong hơn 30 năm qua, qua vụ án 5 ký giả người Mỹ gốc Việt “bị đông lạnh” cho thấy cộng đồng người Mỹ gốc Việt đã bị đối xử như những công dân hạng hai!

Chuyện “kinh hãi trái khoáy”, nói theo cách nói của nhà báo Đinh Từ Thức là thay vì hoan nghênh, ủng hộ cuốn phim để tìm lại vị trí đứng của mình trong xứ sở tự do nhất là Hoa Kỳ; qua sự xúi giục của đảng Việt Tân, một số tổ chức, hội đoàn của đảng này đã hội thảo, trả lời phỏng vấn của hệ thống truyền thông CaliToday của nhà báo Nguyễn Xuân Nam ở San José đã bịa điều đặt chuyện vu cáo phóng viên AC Thompson và hãng phim PBS. Thậm chí, đảng VT đã “mua chuộc (?)” được Thượng Nghị sĩ Janet Nguyễn của tiểu bang California phát hành một thông cáo báo chí phản đối đài Frontline/ProPublica.

Điều chua xót nhất là chính phóng viên AC Thompson, đạo diễn Rowley họ đã công khai thách thức kinh tế gia Nguyễn Xuân Nghĩa (NXN), kẻ đã viết bài, trả lời phỏng vấn kết tội AC Thompson là “những kẻ cầm máy giết người”, là làm “phóng sự ba xu”… đối chất với họ.

Nói theo truyện kiếm hiệp của Kim Dung là NXN đã làm cái chuyện con rùa… rúc cái “qui đầu” vào cổ của nó!

Bọn nhà văn, nhà báo Giao Chỉ tức cựu Đại Tá Lộc cũng như “nhà báo buôn Vua” Huỳnh Lương Thiện cũng như bọn đầu lĩnh đảng VT cũng đã hành xử y chang cái cách hành xử cuả “tên Quách Hoè thời đại @ (acòng)” là NXN.

Chúng nó cũng như những con rùa rúc cổ!

Tội nghiệp con rùa. Nó là động vật thuộc loại tứ linh: long, lân, qui, phụng. Không biết vì sao mà hễ muốn mắng chửi địch thủ thì truyện kiếm hiệp Kim Dung cứ là: “Mày là con rùa rúc cổ”. Rồi cái chuyện diễn tả “đầu, mình, tứ, chi” của con rùa cũng là thiệt hại cho còn rùa quá đáng. Nội cái chuyện đặt tên “đầu rùa” là “qui đầu”, y chang như chuyện gọi “cái xuất hiện trước tiên” của “cái tự do” (nói theo cách nói của một tên công an VC) của những đấng đàn ông thì thiệt là… ép con rùa quá.

Chuyện này thì cũng y chang luật pháp Hoa Kỳ “ép” cộng đồng người Mỹ gốc Việt suốt 33 năm qua về chuyện 5 ký giả người Mỹ gốc Việt bị sát hại!

Một triệu bảy người Mỹ gốc Việt ở Hoa Kỳ trong suốt 40 năm qua đã đóng góp cho đất nước tạm dung là Hoa Kỳ rất nhiều công sức cũng như tiền bạc. Xin ông Nhà Nước Hoa Kỳ đừng có coi chúng tôi như… cái đầu của con rùa, tội nghiệp!

Xin mấy ông, bà nhà văn, nhà báo, nhà hoạt động cộng đồng, nhà Tập Thể Chiến Sĩ của ông Tướng Bình Vôi Nguyễn Khắc Bình, kẻ ném đá không cần giấu tay, những nhà cách mạng Diên Hồng Thời Đại gì đó không nên nhân danh nhà văn, nhà báo, nhà hoạt động cộng đồng v.v… mà lại tự biến mình thành… những cái đầu của con rùa!

*

Tôi cứ suy nghĩ hoài trong suốt 2 tháng qua khi cùng với nhà văn Trương Minh Hoà, nhà báo Hứa Vạng Thọ đứng ra viết bài bênh vực cháu Nguyễn Thanh Tú trong hành trình của cháu trong suốt 33 năm qua, tôi không hiểu những kẻ tự xưng mình là nhà văn, nhà báo mà lại ra sức ngăn cản công lý thì không biết phải gọi họ là hạng người gì?

May quá, đã có câu trả lời về loại nhà văn, nhà báo này. Xin mời độc giả đọc trích đoạn sau đây trên một diễn đàn điện tử:

“ Tản mạn cuối

Xin dành cho cậu Nick Út.

Cậu Nick thân mến. Lẽ ra đã không có cái phần tản mạn này nếu không có Facebook. Lẽ ra đã không có cái phần tản mạn này nếu cậu biết đâu là điểm dừng.

Cậu đã lãnh một giải Pulitzer nhờ tấm hình “Cô Bé Napalm” chụp năm 1972, một chuyện mừng cho cậu, cậu tự hào là đúng.

Từ đó đến nay đã quá lâu, đã có bao nhiêu nước chảy qua cầu rồi, những năm đầu tiên sau đó còn có thể hiểu được; nhưng không hiểu sao, cho đến bây giờ, hơn 40 năm, mỗi lần Cô Bé Napalm được mời đi đâu diễn thuyết, cậu cứ đi kè kè bên cô ấy hoài, chỗ nào có cô ấy là lại có cậu, nhiều lúc cậu còn nổi hơn cô ấy nữa? Sao giống như “ăn mày dĩ vãng” vậy?

Mới đây, sau vụ nổ súng ở San Bernardino, cậu đã đưa lên Facebook cho mọi người xem “tác phẩm” của cậu trong tang lễ của cô Nguyễn Thị Thanh Tín đã được hai tờ báo lớn của Mỹ sử dụng. Trông mặt của cậu thật là hí hửng, hả hê, tự mãn.

Trước khi góp ý với cậu, tôi xin kể cậu nghe câu chuyện của Kevin Carter, cũng là một photo-journalist như cậu, cũng lãnh một Pulitzer như cậu, và chắc cậu cũng biết Kevin.

Kevin có mặt ở Nam Sudan năm 1993. Anh bị thu hút bởi hình ảnh một bé gái ốm trơ xương đang lê lết trên mặt đất. Bố mẹ của bé để tạm bé ở đó để nhanh chân đến một điểm phát thực phẩm miễn phí gần đấy. Kevin chỉ định chụp bé gái để nói lên tình trạng đói kém của Nam Sudan nói riêng, Phi châu nói chung. Nhưng khổ một nỗi là có một con kên kên đứng gần đấy. Kevin nói anh chờ đến 20 phút mà kên kên vẫn chưa chịu đi chỗ khác.

Cuối cùng Kevin đành chụp cả bé gái lẫn kên kên, đem bán cho các tờ báo.

Khi tấm ảnh xuất hiện trên tờ New York Times ngày 26 tháng 3 năm 1993 – cùng tờ báo đăng hình tang lễ cô Tín của Nick – nó đã gây cú sốc cho nhiều người về tình cảnh khốn khổ được thể hiện. Cùng lúc, hàng trăm người đọc nhao nhao hỏi tờ báo số phận của bé gái ra sao, liệu có bị kên kên ăn thịt hay không… Người Mỹ nói chung rất mê con nít và hay bênh vực thành phần thấp cổ bé miệng, thành phần vulnerable. Một biên tập viên của tờ trả New York Times lời lấp lửng: bé gái cũng cố gắng tránh xa kên kên nhưng không rõ số phận chung cuộc của bé ra sao. Câu trả lời này càng làm cho người đọc hoang mang hơn nữa. Có người chất vấn tờ báo: tại sao trước một cảnh thương tâm như vậy còn có người thản nhiên đứng chụp ảnh, thay vì phải cứu bé gái? Một tờ báo khác cay độc hơn: “Cái người điều chỉnh ống kính để có thể lấy đúng bức ảnh về sự đau khổ của bé gái đó cũng là một con thú, một con kên kên khác đang có mặt ở hiện trường.”

Kevin nhận được một Pulitzer với tấm ảnh, nhưng lương tâm anh vẫn ray rứt vì đã không giúp gì cho bé gái.

Ba tháng sau khi nhận giải, anh tự sát, để lại lá thư cho biết một trong những lý do anh muốn chết là bị ám ảnh bởi những gì mình đã làm.

Cậu Nick thân mến,

Cậu đeo đuổi cái nghề photo-journalist từ mấy chục năm qua và sống thoải mái nhờ nó là chuyện mừng cho cậu.
Trong cái ngành truyền thông, nghề của cậu nó khác với nghề của Bob Woodward và Carl Bernstein, những người đã khui ra vụ Watergate. Nó cũng khác với công việc của Tuấn Khanh, Nguyễn Quang Lập, Huy Đức hoặc những nhà báo đã khui ra vụ PMU 18 hoặc vụ Huỳnh Văn Nén.

Nghề của cậu, tuy cũng có nguy hiểm khi phải ra những chỗ có tiếng đạn bom, nhưng không mang tính sáng tạo, không sợ bị bắt, bị tù, bị thủ tiêu; cậu chỉ chờ sự kiện xảy ra thay vì tạo ra sự kiện.

Cậu may mắn hơn nhiều phóng viên khác. Cậu đã được tổ đãi. Cơ hội từ trời rơi xuống. Cả đời phóng viên nhiếp ảnh may ra mới đến một lần. Nói cách khác, cậu đã ở đúng nơi, đúng lúc, và làm đúng công việc của mình, chấm hết, you happened to be in a right time and a right place, that’s all.

Cách hành xử của cậu làm nhiều người yêu nghề truyền thông xấu hổ. Cậu đã chứng minh cho câu nói: nghề báo là nghề sống bằng đau khổ và xác chết của đồng loại. (Trích “Một đời phát thanh” của Châu Quang danchimvietonline).

*

“Nghề báo là nghề sống bằng đau khổ và xác chết của đồng loại!”

Nhận định này của nhà báo Châu Quang áp dụng vào tên “sát nhân cầm máy” Nick Út đem áp dụng vào tên “nhà báo buôn Vua” Hùynh Lương Thiện và đồng bọn của tên này không sai một chút nào!

CÓ PHẢI LÝ TƯỞNG CỦA NHỮNG NHÀ BÁO VIỆT NAM LƯU VONG
TRỞ NÊN QUÁ MỜ ĐỤC VÀ MỤC NÁT? (Bài 4 )

NGUYỄN THIẾU NHẪN

Khi cuốn phim “Khủng bố ở Sàigòn Nhỏ” (Terror in Little Saigòn) của phóng viên AC Thompson và đạo diễn Rowley do hãng phim ProPublica trình chiếu vào ngày 3 tháng 11 năm 2015, tôi có viết bài viết đặt vấn đề: “Có phải lý tưởng của những nhà văn, nhà báo Việt Nam lưu vong trở nên quá mờ đục và mục nát?” vì thấy chính những người Mỹ (gốc Mỹ) đã can đảm lên tiếng về cái chết oan khuất của 5 nhà báo người Mỹ gốc Việt đã bị bọn khủng bố sát hại cách đây 33 năm; trong khi đó, những nhà văn, nhà báo người Mỹ gốc Việt không có ai lên tiếng. Những kẻ tự xưng mình là nhà văn, nhà báo như ông Giao Chỉ (Vũ Văn Lộc), Huỳnh Lương Thiện thì lại lên tiếng bênh vực băng đảng Việt Tân là đảng phái đã bị cuốn phim phóng sự tố cáo là “nghi phạm chính trong những vụ sát hại những nhà báo người Mỹ gốc Việt cách đây 33 năm”.

Là một người cầm bút với tâm niệm phục vụ cho Lẽ Phải và Sự Thật, tôi coi khinh những kẻ như Giao Chỉ Vũ Văn Lộc, Huỳnh Lương Thiện là những kẻ:
 

“Trái tim để ở dạ dày
Đầu óc thì để gần kề hậu môn!”
Một điều tôi rất ngạc nhiên là những nhà văn, nhà thơ, nhà báo Việt Nam lưu vong, đã thành danh trước ngày 30 tháng Tư Năm 1975 như Nhã Ca, Trần Dạ Từ, Tô Thùy yên, Ngô Thế Vinh v.v… vẫn bình chân như vại trước sự việc khủng khiếp là những đồng nghiệp của mình bị sát!

Người duy nhất mà tôi biết là nhà báo Đinh Từ Thức, với bút hiệu Sức Mấy đã thành danh ở VN trước tháng 4 năm 1975 đã lên tiếng.

Do đó, nên tôi rất ứa gan khi đọc bài viết “Bốn mươi năm cuộc chiến & Văn học miền Nam trong ngành nghiên cứu của Hoa Kỳ” của nhà phê bình Nguyễn Tà Cúc viết về hai nhà văn, nhà báo Võ Phiến, Nhã Ca, như sau:
“…Tựu chung, trường hợp này cho thấy sự thiếu khả năng về tiếng Việt và kém tinh nhạy hay thiếu hụt trong vấn đề tài liệu (8) cũng sẽ tiếp tục đóng vai trò quyết định cho hai cuốn sách chuyên về Văn học Miền Nam được xuất bản sau đó mà tác giả của chúng cũng thuộc giới giáo sư đại học: cuốn Vo Phien and the Sadness of Exile, John C Schafer, xuất bản năm 2006, và Mourning Headband for Hue: An Account of the Battle for Hue, Vietnam 1968, do Olga Dror dịch ra Anh ngữ, xuất bản năm 2014 từ cuốn Giải khăn sô cho Huế. Cuốn Mourning Headband for Hue: An Account of the Battle for Hue, Vietnam 1968 còn cần phân tích hơn nữa vì, cũng như cuộc Cải cách ruộng đất, việc thảm sát tại Huế còn là một vấn đề chính trị mà cho tới nay người Cộng sản vẫn không nhận trách nhiệm về tội ác này.
 
Điều tình cờ là gần nửa thế kỷ sau khi Trần Văn Dĩnh và D. Gareth Porter [của Cornell] đặt vấn đề với Hoàng Văn Chí tại Cornell, cái gì xẩy ra tại Cornell?
 
Ngày 27 tháng 10, 2015, một buổi trình bày về cuốn sách này được tổ chức tại đại học Cornell trong chương trình “Voice on Vietnam” với sự hiện diện của tác giả Nhã Ca và dịch giả Olga Dror. Mở đầu chương trình, một người lên giới thiệu, có nói một câu nguyên văn như sau:

 
-“[…] Nhã Ca is an author and journalist who played a prominent role in South Vietnam’s burgeoning literary and print media scene, which flourished at times despite persistent government censorship and interference. Like many South Vietnamese ournalists, she suffered the unfortunate experience of being imprisoned by both the South Vietnamese and Communist governments…”/Nhã Ca là một tác giả và một ký giả đã đóng một vai trò nổi bật trong khung cảnh bột phát của nền văn học và in ấn đang phát triển của miền Nam Việt Nam lúc ấy bất chấp sự kiểm duyệt trường kỳ và sự can thiệp của chính phủ. Cũng như nhiều ký giả Miền Nam khác, bà đã phải cam chịu cái kinh nghiệm không may là bị cầm tù bởi cả chính quyền Miền Nam và Cộng sản…”

Like many South Vietnamese journalists, she suffered the unfortunate experience of being imprisoned by both the South Vietnamese and Communist governments? Có thật Nhã Ca bị cái không-may–mắn là bị chính quyền Miền Nam giam vào tù? Lúc nào? Tòa án nào? Giam ở đâu? Chịu giam bao lâu? Người nổi tiếng nhất từng bị giam là Vũ Hạnh, một cán bộ Cộng sản thế mà còn ầm ĩ được Văn Bút Việt Nam tranh đấu cho được thả ra. Nhà văn Ngô Thế Vinh bị truy tố nhưng được luật sư bênh vực và Tòa xử trắng án. Có lẽ chính phủ Việt Nam Cộng Hòa mới có “kinh nghiệm không may mắn” bị Nhã Ca tuyên bố với một tờ báo ngoại quốc [tờ The New York Times] là Tôi là người trung lập…cả hai bên đều hung hiểm như nhau” trước 1975! Đầu năm 1975, chỉ chưa đầy 3 tháng trước khi Miền Nam mất, Linh mục Thanh Lãng vẫn còn có thể đứng giữa Sài gòn mà trả lời Tạp Chí Nhả Văn [do Nguyên Sa và Trần Dạ Từ, Nguyễn Mai tổ chức] nguyên văn như sau:
-“Tết năm nay, đối với Trung tâm Văn bút Việt Nam là một cái tết tha hương, vì cũng như nhân dân Miền Nam, nhà văn Việt Nam đang sống trong một nhà tù lớn , một chốn ly thân, trong thân phận vong thân. ” [Thanh Lãng, số Mùa Xuân, tháng 2. 1975, trang 115]

Trả lời như thế mà Thanh Lãng không bị tống vào …nhà tù thật thì cũng phải phục cho chính phủ Việt Nam Cộng hòa [chứ không phải phục Thanh Lãng dám đại ngôn quá sức!] Chỉ một thời gian ngắn sau khi Sài gòn mất, bao nhiêu người đã …vong mạng trong tù Cộng sản? Và tin tức ở đâu để chứng minh rằng nhiều ký giả ở Miền Nam cũng bị bắt như Miền Bắc? Với một câu phát biểu thượng dẫn, người phát biểu đã xóa đi hàng chục ngàn ngày tù hay hơn nữa của các văn nghệ sĩ Việt Nam bị người Cộng sản cầm tù, đã nhắm mắt trước những cái chết của văn nghệ sĩ và bao nhiêu người Việt khác từng tranh đấu cho tự do, nghĩa là đã đồng hóa một chính phủ độc tài -Cộng sản với một chính phủ tự do-Miền Nam mà ngày nay không có lý do gì để lầm lẫn một cách hết sức thản nhiên như vậy.

Thú thật, tôi nghe lời giới thiệu này với cả hình ảnh nhà văn Nhã Ca và diễn giả Olga Dror hiện diện mà sửng sốt. Có lẽ nào, từ đâu mà những tin tức hoàn toàn không có thật này tới tay người giới thiệu ngày hôm đó để ông ta có thể rất tự tin phát biểu trước một đám đông như thế? Trong một chương trình được tổ chức tại một đại học từng danh tiếng về các nghiên cứu về Việt Nam? Có lẽ nào chúng ta, người Việt tỵ nạn, hoạt động ròng rã gần nửa thế kỷ nay mà vẫn không thể thay đổi gì hết? Lời giới thiệu này khiến tôi nhớ đến đoạn cuối thư trả lời của Hoàng Văn Chí. Ông chua chát nhận xét rằng:

-“But one small difference disturbs me very much: While in North Vietnam, false charges were made by illeterate peasants in front of largely illiterate audiences, charges of the same qualitative nature are now coming out from the printing press of a famous institution of higher learning in the United States: Cornell University. This I find surprising, to say the least./ Nhưng có một sự khác biệt nhỏ lại làm tôi phiền lòng hết sức: trong khi tại Bắc Việt, những lời vu cáo được phát biểu từ những nông dân thất học trước một cử tọa phần đông cũng thất học, [đàng này] những sự cáo buộc với một thứ giá trị tương tự lại xuất phát từ nhà xuất bản thuộc một đại học danh tiếng của Hoa Kỳ: Đại học Cornell. Cái đó làm tôi ngạc nhiên, ấy là tôi chỉ nói ít thôi đấy.”

Lần này, tôi tin là phải có một lý do nào đó khiến người giới thiệu nói một câu như vậy. Bởi thế, cách hay nhất là tìm hiểu xem trước tiên, những loại tin tức ấy từ đâu đến; rồi sau đó, chính chúng ta đã làm những gì để góp phần nghiên cứu về Văn học Miền Nam để tự vệ.” (Hết trích bài đã dẫn).

*

Trong bài viết “Máu nào đã đổ xuống, mực nào đã viết ra trong cuộc bể dâu này?”, tôi đã có viết về nhà văn Võ Phiến và những việc làm của các nhà văn “ăn cơm Quốc Gia, thờ ma Cộng Sản” của các nhà văn Nguyễn Mộng Giác, Hoàng Khởi Phong, Nguyễn Xuân Hoàng…
Bài viết này xin nói về nhà văn, nhà thơ Nhã Ca với những tuyên bố của bà ta đã làm nhà phê bình Nguyễn Tà Cúc “phải sửng sốt”.

Theo tôi, mụ Nhã Ca này chỉ là người bám đít “bà chàng hãng” Ngô Bá Thành (NBT) đã hãnh diện xưng mình là “người đứng giữa” sau 57 tháng bị chính quyền VNCH giam giữ! Mụ Nhã Ca này thì “hèn hơn” bà NBT khi tuyên bố chàng hãng: “Tôi là người trung lập… cả hai bên đều hung hiểm như nhau”.
Vợ chồng mụ Nhã Ca chưa bao giờ bị chính phủ Miền Nam giam giữ, lại còn được lãnh giải thưởng Văn Chương Toàn Quốc (?) của Tổng Thống Nguyễn văn Thiệu. Cả hai đều “nổi tiếng” trong “vụ án Hồ Con Rùa” về chuyện mua bán gỗ.

“Tên VC nằm vùng” bị chính quyền VNCH bắt giữ sau lời tố cáo của nhà văn, nhà báo Chu Tử của báo Sống là Vũ Hạnh (Nguyễn Đức Dũng); nhưng linh mục Thanh Lãng, Chủ Tịch Văn Bút Việt Nam lúc đó đã lên tiếng can thiệp. Và “tên VC nằm vùng” Vũ Hạnh sau đó đã xách cặp-táp đi khắp các giảng đường ọ ẹ, khoe khoang là y “đã làm theo lời dạy dỗ của Trần Bạch Đằng”, đã viết và xuất bản quyển “Người Việt cao quý” ký bút hiệu A.Pazzi có nghĩa là “bất di, bất dịch”! Vũ Hạnh đã nổi tiếng với quyển  truyện “Bút Máu” mà sau đó đã ứng nghiệm vào việc cộng sản miền Bắc đã “tắm máu” người dân miền Nam khi con trăn miền Bắc đã nuốt trộng con nai miền Nam.

Nay, vì chút quyền lợi cuối đời “mụ chàng hãng” Nhã Ca và chồng của mụ là Trần Dạ Từ (tức Lê Hà Vinh?), được sự tiếp tay của bọn trí thức thiên tả Tây phương để viết lại lịch sử nhằm giảm bớt tội ác của Cộng sản Việt Nam là chuyện không có gì đáng ngạc nhiên.

Hàng trăm ngàn chiến sĩ Quân Lực VNCH đã hy sinh mạng sống để vợ chồng chúng nó, con cái chúng nó nó sống dưới chế độ tự do, dân chủ (dù chưa được hoàn hảo) còn bị nó tố cáo là “(chế độ) hung hiểm – như miền Bắc” thì nhằm nhòi gì mạng sống của 5 đồng nghiệp của nó đã bị bọn khủng bố sát hại ngay đất nước có đầy đủ tự do, dân chủ và nhân quyền như đất nước Hoa Kỳ?!

Mụ “nhà văn, nhà thơ chàng hãng” Nhã Ca (Trần Thị Thu Vân) còn khốn nạn hơn hai anh nhà văn, nhà báo tép riu Giao Chỉ (Vũ Văn Lộc) và Huỳnh Lương Thiện nhiều!

Chúng nó đâu có lý tưởng mà thắc mắc là “lý tuởng của chúng nó mờ đục và mục nát”?

Chúng nó chỉ là bọn lý… tài. Không hơn, không kém!

NGUYỄN THIẾU NHẪN

 

 

 

This entry was posted in Bình luận, Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s