Vài huyền thoại của người Tàu

Người Tàu bản chất  khoác lác , khoe khoang , ngạo mạn …  .

(Học giả xã hội nổi tiếng Mark Weber xác quyết rằng :  người Trung Quốc là dân tộc không thành thật nhất thế giới .

Chính trị gia Lương Khải Siêu nhận định : dân tộc tính Trung Quốc là võ đoán , giả dối  và hèn hạ .

Triết gia Hồ Thích của Phong Trào Văn Hoá Mới thì cho rằng : người Trung Quốc không biết xấu hổ .

Học giả Đài Loan Hạng Thoại trong cuốn sách « nghiên cứu tính dân tộc của Trung Quốc » đã nhận định : người Trung Quốc rất ngạo mạn , khinh rẻ người ngoại quốc  .
Văn Hào Lỗ Tấn và nhà truyền giáo Mỹ  A.H Smith  cùng quan điểm là : người Trung Quốc tự cao , tự đại và khinh thường người nước ngoài    .

Người Tàu  cho rằng Vua của họ là con Trời  (Thiên Tử ) và nước của họ là trung tâm tinh hoa của thế giới  Trung Hoa hay Trung Quốc ( thật ra tên này chỉ được đặt ra trong cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911 dùng tuyên truyền chống nhà Mãn Thanh ) . Còn các nước khác Bắc Địch – Nam Man – Đông Di – Tây Nhung  đều là   Man- Di –Mọi- Rợ  .

Họ cũng luôn  rêu rao ,  với sự phụ hoạ của một số nhà khoa bảng VN  mất gốc hoặc nhiễm nặng tư tưởng hũ nho rằng  ”  người Việt  có nguồn gốc từ Tàu ”  .

Ngày nay khoa học, kỹ thuật tiến bộ , những ngành khảo cổ ,dân tộc học , nhân chủng học , ngôn ngữ học , di truyền học , hải dương học  … đã chứng minh  về những khoác lác của Tàu là  vô căn cứ  .

Theo sử gia , học giả lừng danh người Anh Toynbee trong bộ  A Study of History thì “   tự cỗ chí kim thế giới có 32 nền văn minh , trong đó văn minh VN sánh ngang với các nền  văn minh khác như Trung Hoa , Ấn Độ , La Mã , Hy Lạp  … “

Theo ngành nhân chủng học thì  nhân loại bắt nguồn từ Châu Phi .
Khoảng 100.000 năm trước thì một số người Phi Châu tiến về Trung Đông  và 1 nhánh đến Ấn Độ , Pakistan , trụ ở đây khoảng 10.000 năm . Sau đó đến sinh sống ở vùng Đông Nam Á và Nam Á .

( Người Châu Phi gốc da đen , tóc xoăn , nhưng đến Á Châu thì sắc da trở nên vàng , tóc thẳng  , đến Châu Âu thì da trở nên trắng ) .

Người Việt nguyên thuỷ lập nghiệp ở vùng châu thổ  sông Hồng và sông Mã ,  chủ yếu sống bằng nông nghiệp  cách nay khoảng  25.000 năm  .

Từ 6.000 – 7.000 năm về trước , Tổ Tiên của người Việt đã thuần hoá được cây lúa hoang thành cây lúa nước  (Oriza Sativa) , mà theo các nhà nghiên cứu thế giới : “ nông nghiệp trồng lúa nước là khởi đầu của văn minh nhân loại ”  .

Với thiên nhiên phong phú  , khí hậu thuận lợi … người Việt xưa đã biết trồng trọt rau , củ , quả , thuần hoá một số gia súc … tổ chức thành làng mạc , sống hợp quần theo nhân bản  tạo thành nền văn hoá đặc thù của người Việt tiếp nối  qua  4 nền văn hoá thật rõ nét  :

  • Văn hoá Hoà Bình :                                                                                                                                                                        Sau nền văn hoá khởi thuỷ Sơn Vi ( huyện Phong Châu – Tỉnh Vĩnh Phú ) thuộc hậu thời kỳ đồ đá (25.000 – 15000 năm trước ) là nền văn hóa Hoà Bình – được  quốc tế công nhận ngày 30.01.1932 tại đại hội các nhà  sử học  Viễn Đông  họp tại Hà Nội .

Văn Hoá Hoà Bình (15.000 – 10.000 năm trước ) là văn hoá nông nghiệp , xóm làng sống hài hoà

  • Văn hoá Bắc Sơn : (10.000 – 6.000 năm trước)

Với những  chiếc rìu mài lưỡi  nổi tiếng ở huyện  Bắc Sơn  , tỉnh Lạng Sơn mà cả thế giới đều biết . ( xem  Plus d’images pour ảnh chiếc rìu mài Bắc Sơn)

  • Văn hoá Phùng Nguyên :

Văn hoá Phùng Nguyên ( Phú Thọ)  cách nay khoảng 4.500 năm ,là thời đại Vua Hùng dựng nước  với nhiều  di tích được tìm thấy ở PhúThọ , Bắc Ninh , Hà Tây , Hà Nội , Hải Phòng  …  Trong 1 mảnh sành khảo cổ người ta thấy có  vỏ hạt thóc Oriza Sativa , dùng carbon 14 phân tích thì hạt lúa này có ít nhất 3.500 năm trước tây lịch . Theo Đại Học Otago  – Tân Tây Lan và Hawai – Mỹ thì nó có trước hơn hạt lúa khai quật được ở Ấn Độ khoảng 1.000 năm  .

  • Văn hoá Đông Sơn :

Có niên đại cách nay khoảng 2.820 năm , nổi tiếng về đồ đồng  với trống đồng Ngọc Lũ mà thế giới biết tiếng .

( xem Plus d’images pour hình ảnh trống đồng ngọc lũ )

ảnh bản đồ vhHB và vh HH.jpg

Ảnh bản đồ vùng văn hoá Hoàng Hà ( đỏ ) và Văn hoá Hoà Bình ( xanh )

Trong lúc  người Việt cổ xây dựng nền văn hoá Phùng Nguyên Đông Sơn thì người Tàu thời đó sống vùng trung lưu sông Hoàng Hà ,  ngày nay thuộc 3 tỉnh Sơn Tây  (quê hương của vua Nghiêu) , Hà Nam ( quê Hạ Vũ , kinh đô của nhà Ân  ) , Thiễm Tây ( núi Kỳ , sông Vị – quê hương của nhà Chu từ 1.122 – 225 trước tây lịch ) tạo nên nền văn hoá Hoàng Hà  .

*( Văn hoá hiểu gọn là tất cả hình thái sinh hoạt về vật chất và tinh thần của con người trong cách  ứng xử với thiên nhiên , xã hội , lịch sử  … ) .

***

Từ nền văn hoá Hoà Bình , cùng với nhiều dân tộc khác  ở Vùng Đông Nam Á , người Việt toả lên phương Bắc vượt sông Dương Tử đến tận Nam sông Hoàng Hà để sinh sống chủ yếu về nông nghiệp trồng lúa nước, lập nên các nước  Bách Việt  (U Việt – Chiết Giang , Mân Việt- Phúc Kiến   ,Đông Việt – Giang Tây , Nam Việt – Quảng Đông , Âu Việt – Lạc Việt- miền Bắc VN ngày nay …  ) .

Cho đến 300 năm trước công nguyên, do khác biệt về văn hoá  (Tàu văn hoá du mụcViệt văn hoá nông ngiệp định cư ) người Tàu vẫn chưa giao tiếp với giống dân Bách Việt .

ảnh bản đồ thất hùng thời chiến quốc.jpg

Cuối thế kỷ thứ 3 trước tây lịch (ttl) ,  nước Tần –  1 trong 17 nước nhỏ thời  nhà Chu  , là giống dân bán khai , đa số thuộc Khuyển – Nhung  , nhưng chiến đấu giỏi trở thành 1 trong thất hùng  (Tần , Hàn , Triệu , Nguỵ , Yên , Sở , Tề) .

Trong 9 năm  (từ 230 ttl đến 221 ttl) Tướng Mông ĐIềm của Tần lần lượt chiến thắng  Hàn , Triệu , Nguỵ , Sở , Yên , Tề  gồm thâu nước Tàu về một mối .

Triệu Chính ( hay Doanh Chính con của Lả Bất Vi)  lên ngôi  xưng là Tần Thuỷ Hoàng   (Thuỷ nghĩa là đầu tiên . Người Tàu qua những chuyện Kinh Kha  , Cao Tiệm Ly , Lạng Tương Như  … đều khinh ghét T. T.H và gọi y là BẠO CHÚA , nhưng  sử gia Tư Mả Thiên do ngưởng phục  những thành tích của T.T.H  vì thời Tần , nước Tàu là đế quốc lớn nhất thế giới nên đã tôn xưng T.T.H là vị  Hoàng Đế đầu tiên của nước Tàu )   .

Việc  đánh giá về công – tội của T.T.H thì vô số sách vở của người Tàu đã đề cập .
Dù khen hay chê dưới thời T.T.H có những điều mà không ai có thể phủ nhận được là việc  « đốt sách chôn học trò »  (chôn 460 người . Thời Mao Trạch Đông chôn và xử tử  hơn 4 vạn 6 nghìn cổ Nho , trí thức trong đợt cách mạng văn hoá vì Mao cho rằng Khổng – Nho  là nguồn cội của mọi xấu xa  trong chế độ phong kiến ) .
Xây ” vạn lý trường thành ” để ngăn sự xâm lăng của Hung Nô – dù vậy vẫn không cản được các bộ tộc  du mục phương Bắc thỉnh thoảng tràn sang cướp  phá ,  bắt Tàu phải triều cống như  nhà Tống  ( 120 triệu dân)  triều cống cho Bộ Tộc Liêu ( chỉ 5 triệu rưởi dân ), thậm chí phải gả công chúa Tàu để cầu hoà (  Năm 33 ttl  cống Chiêu Quân – Vương Tường  cho Hồ Hàn Tà -chúa Hung Nô .                                                         Năm 609  , Tuỳ Dạng Đế gả công chúa Nghĩa Thành cho Khả Hãn Thuỷ Tất …  )  .

Nhưng  do không biết xấu hổ  nên người Tàu luôn hảnh diện VLTT là kỳ quan để che đậy  ô nhục về sự yểu kém trước các nước  Địch bé nhỏ ở phương Bắc  .

Thực ra những kẻ đề cao T.T.H thường chỉ vì bản chất khoác lác cố hữu của người Tàu , chứ công thống nhất nước Tàu không phải do T.T.H . Rồi khi lên ngôi năm 13 tuổi , sau lưng y vẫn do Lã Bất Vi nhiếp chính , Lý Tư là Thừa Tướng , Mông Điềm là Nguyên Soái , đến 22 tuổi T.T.H mới chính thức là vua điều hành việc nước .

Bản chất thật của T.T.H  nổi bật ở 2 lảnh vực «  thích thống trị »  ( bành trướng lảnh thổ bằng bạo lực ) và “  ham hưởng thụ “   (xây cung Hàm Dương , Cung A Phòng … gom tất cả mỹ nữ trong nước về để hưởng lạc ).

Ngoài ra vì muốn  được hưởng thụ lâu dài T .T.H  còn ra lệnh cho các đạo sĩ đi khắp nơi tìm dược thảo quý về  luyện thuốc trường sinh  , nhưng dù dùng thuốc trường sinh  Ông ta chỉ sống đến 49 tuổi  .

Truyền thuyết về sự ra đời của nước Nhật Bản  là do T.T.H sai Từ Phúc ra quần đảo này để tìm thuốc quý  .

(xem -Sự huyền bí của việc Từ Phúc đi Nhật – CRI)

ảnh TP đi tìm dược thảo ở Nhật.jpg

  Tranh hoạ Từ Phúc đi Nhật

Thời nhà Tần , nước Tàu có khoảng 20 triệu dân ,  T.T.H đã sai tướng Đồ Thư mang 50 vạn quân  chia làm 5 đạo đi chinh phục các nước thuộc Bách Việt . Lần lượt họ chiếm được  Chiết Giang , Nam Hải ( Quảng Đông) , Quế Lâm ( Quảng Tây)  , Tượng Quận (1 phần của Bắc Việt  – Âu lạc của An Dương Vương ) .

Riêng ở Lạc Việt , phải đánh nhau ròng rã trong 10 năm  ,cuối cùng  Đồ Thư bị phục kích  giết chết .

Triệu Đà 1 tướng khác của nhà Tần gốc người Nam Định  phải dùng mưu nội gián  mới hạ được thành Cổ Loa diệt được Thục Phán ( xem Truyện truyền thuyết mỵ châu – trọng thủy ).

ảnh bản đồ nước văn lang.jpg                                               

                                                   ảnh bản đồ nước Văn Lang

Sau đó ,Triệu Đà sáp nhập xứ Văn Lang ( Âu – Lạc Việt) , Quảng Tây , Quảng Đông , Hải Nam  (Châu Nhai ) … lập thành Đế Quốc Nam Việt   .

Khi vua Gia Long Nguyễn ÁNH thần phục nhà Thanh , năm 1802 cử Trịnh Hoài ĐỨC đi sứ đem trả lại sắc ấn của Thanh triều phong cho vua Quang Trung Nguyễn HUỆ và  xin  -đặt quốc hiệu là Nam Việt  , nhưng  vua Thanh vì vẫn còn  khiếp sợ bài học do Nguyễn Huệ dạy cho năm Kỷ Dậu 1789  – 29 vạn quân Thanh bị đánh tan tành .

Sợ quốc hiệu Nam Việt  sẽ tái lập quốc hiệu  thời Triệu Đà –  năm 179 ttl và nếu nước Việt mạnh lên sẽ đòi lại những đất đai cũ của nước Nam Việt  nghĩa là phía  Đông đến Phúc Kiến và phía Bắc đến Hà Nam , nếu kể cả Chiêm Thành ( Lâm  Ấp) và Chân Lạp thì nước Việt sẽ trở thành một đại cường quốc nằm sát nước Tàu về phía Nam .

Do đó ,  vua Thanh chỉ thuận cho quốc hiệu nước ta là Việt Nam  )  .

Đến đời nhà Hán , năm 135 ttl Tàu chiếm được Mân Việt , năm 111 chiếm Nam Việt , ít năm sau chiếm luôn Đông Việt .
Như vậy , cho đến thế kỷ thứ nhất , các nước thuộc Bách Việt đều  đã bị Tàu sáp nhập và đồng hoá , trừ Âu- Lạc Việt tuy cũng bị  chiếm đóng nhưng luôn kiên cường đấu tranh chống sự đồng hoá của Tàu  .

***

Trong hơn 10 thế kỷ ( 111 năm ttl + 938 năm  ) đô hộ nước ta , người Tàu thâm độc luôn tìm mọi cách để đồng hoá dòng giống  Âu – Lạc Việt  như :

  • – Sau khi thắng hai bà TRƯNG , Mả Viện  đã đày 300 thủ lỉnh Việt  sang Hà Nam  (Kim Lăng) ,      thi hành lệnh vua Hán Quang Vũ huỷ văn hoá Việt như đốt sách hoặc  tịch thu  mang về Tàu , huỷ tất cả trống đồng để đúc thành đồng trụ với lời đe doạ ”  đồng trụ chiết Giao Chỉ diệt ” , áp đặt luật cai trị khắt khe của nhà Hán   .
  • – Những Thái Thú Tàu như Nhâm Diên , Tích Quang , Sỹ Nhiếp ra sức cưởng ép người Việt phải theo Hán học và nếp sống của người Hán  .( Riêng Nhâm Diên là Thái Thú Cửu Chân thời Hán Quang Vũ , mà người Tàu khoác lác là đã dạy cho người Việt lễ – nghĩa thì tôn thờ 1 vị Thầy gốc Bách Việt là Đổng Trọng Nghi như Thánh sống???  .

Còn Sỹ Nhiếp sinh quán Quảng Tây ,  là người giả nhân , giả nghĩa để lấy lòng dân bị trị địa phương nhằm vơ vét của cải quý triều cống cho cả Hán và Ngô theo sách lược đu dây để gia tộc y được vinh thân . Vua Tự Đức nhận xét : Sỹ Nhiếp chẳng qua là Thái Thú nhà Hán , tuỳ thời nịnh hót , cầu sao cho mình được an toàn , chứ không có mưu lược , tài giỏi chi cả … ) .

  • – Minh Thành Tổ , ngày 21.08.1408  ban sắc chỉ cho Chu Năng , Hoàng Phúc ,Trương Phụ , Mộc Thạnh đốt sạch sách vở , văn tự của người Việt  trừ 95 bộ sách và tài liệu quý mang về Tàu ( trong đó có tài liệu chế thuốc súng và súng thần công của Hồ Nguyên TRỪNG – con Hồ Quý Ly … ) .
  • – ……………………………………………………………………………..

Hơn 10 thế kỷ đô hộ hà khắc và vô cùng thâm hiểm nhằm đồng hoá người Việt , Tàu vẫn hoàn toàn thất bại  trước  sức đề kháng kiêu hùng của dòng giống Lạc Việt  , nhưng Tôn Dật Tiên ( tức Tôn Văn hay Tôn Trung Sơn sinh năm 1866 ở Quảng Đông ) cha đẻ của thuyết Tam Dân ( Dân tộc , Dân sinh , Dân quyền ) là người gốc Bách Việt bị Tàu đồng hoá lại dám miệt thị  dân tộc Việt ( Trong lần  T.D.T thăm viếng Quốc Dân Đảng Nhật Bản .  Lảnh tụ QDĐ Nhật là Khuyển Dưỡng NGHỊ hỏi T.D.T : » tiên sinh từng viếng Hà Nội , xin cho nhận định về dân tộc VN  – T.D.T đáp : ” VN từng bị chúng tôi ( Tàu) đô hộ hơn 1.000 năm , Pháp đô hộ gần 100 năm , dân tộc ấy chỉ có  TƯ TƯỞNG NÔ LỆ “  .K.D.N không đồng ý : »  thưa tiên sinh , trước sự  bành trướng  của TQ tất cả các nước khác thuộc Bách Việt đều bị đồng hoá  trừ  Âu –Lạc Việt . Một dân tộc như thế không thế nào có tư tưởng nô lệ … “ . T.D.T xấu hổ vì biết K.D.N khinh sự mất gốc của y  ).

Người Tàu đông dân , bản chất cực kỳ tham lam , hiếu chiến , qua các đời Tần , Hán ,Đường , Tống , Nguyên , Minh , Thanh  đều chủ trương »  cùng binh độc vũ »  tức dùng quân đội để đàn áp … nên việc họ xâm lăng tất cả các nước láng giềng : Triều Tiên (Cao Lâu Ly) , Nga La Tư, Mãn Châu , Mông Cổ , Tân Cương , Tây  Tạng , Miến Điện , Việt Nam là điều không khó để giải thích và việc họ chiếm đóng , đô hộ VN hơn nghìn năm  là có thật , nhưng  vì đó mà cho rằng “  nguồn gốc của người Việt  từ Tàu  là  KHÔNG ĐÚNG SƯ THẬT ”  .

 

Vì hồi thế kỷ thứ 13 , Mông Cổ (chỉ 2 triệu rưởi dân) từng đô hộ nước Tàu (80 triệu dân) 97  năm  và từ thế kỷ thứ 17 Mãn Châu (1 triệu dân) từng đô hộ nước Tàu (150 triệu dân) 267  năm …  .
Chẳng lẻ  nguồn gốc người Tàu  là từ Mông Cổ hoặc Mãn Châu ??? .

Nhà văn  Lỗ Tấn và Vương Sóc ( người nổi tiếng chỉ sau Kim Dung và Lỗ Tấn ) đã  nhận định thật hóm hỉnh về bản chất không biết xấu hổ của người Tàu : «  tất cả dân tộc Hán hiện nay đều coi những kẻ xâm lược ngoại tộc như Thành Cát Tư Hãn , Càn Long … là anh hùng của dân tộc mình » .
***

Vì  sự khác biệt giữa nền văn hoá du mục của Tàu và văn hoá nông nghiệp định cư của người Việt , nên giữa người Tàu và người Việt có vô số điều khác nhau :

  • – Người Tàu  chuộng sức mạnh , hiếu chiến , thích đánh nhau , coi rẻ mạng người …
    Thời nhà Chu , trong 242 năm đã có  483 trận đánh nhau , 36 vụ giết vua  …  .
    Riêng trong trận Trường Bình  năm 260 ttl  giữa Tần và Triệu  , quân Triệu bị chết 5 vạn và  40 vạn hàng binh bị Tướng Bạch Khởi của Tần giết sạch trong 1 đêm  (  tổng cộng 450 .000 người  chết ) .

(  xem  Trận Trường Bình  ) .
Cùng thời và trước đó  ( thời mà Phật  , Chúa   chưa ra đời ) người Việt do bản chất hiếu hoà , chuộng nhân nghĩa  đã biết sống hài hoà trong các làng mạc  …  .

Trong suốt 18 đời Hùng Vương không hề có chiến tranh .

  • – Người Tàu trọng Nam , khinh  Nữ  .

” Nhất Nam viết hữu , thập nữ viết vô “

Trong thời nhà Chu  phụ nữ bị chà đạp phẩm giá, bị mua bán như súc vật : cha bán con gái , chồng bán vợ …                                                                                                            Giới quan lại hoặc người giàu thường mua nhiều phụ nữ để làm hầu thiếp , nô lệ tình dục  hoặc tôi đòi nên có câu  ngạn ngữ «   mua  phụ nữ  như mua ngựa , thích thì cởi , không thích thì bán  « .

Ngay như thi hào Bạch Cư Dị với 4.000 bài thơ –  nổi tiếng  nhất bài  « tỳ bà hành »( xem Bài     thơ: Tỳ bà hành – 琵琶行 (Bạch Cư Dị ) , giả nhân , giả nghĩa cảm thông với giai cấp nghèo khó , thấp hèn , nhưng cũng đã mua nhiều thiếu nữ tuổi 14 – 15 còn trinh tiết để hưởng lạc theo quan niệm ”   ích thọ ”  , khi những thiếu nữ này 19 – 20 thì đem ra chợ bán chung với các loại gia súc khác  .

Riêng thời Hán Vũ Đế , năm 101 ttl trong cung Minh Quang có hơn 2.000 cung nữ tuổi từ 15 đến 20 còn trinh tiết (  kiểm tra bằng thủ cung sa ) .
Vì  số cung nữ quá nhiều , không có cách  chọn nên vua đã để dê tự ý kéo xe vào phòng cung nữ nào thì hành lạc với cung nữ đó  (vua HVĐ dùng xe do dê kéo) .
Nhiều cung nữ khôn lanh  đã rắc lá dâu trước phòng để dụ dê vào , nên có câu «   xe dê nọ rắc lá dâu mới vào «  .

Quản Trọng ( 725 -645 ttl )người đã giúp Tề Hoàn Công  đứng đầu ngũ Bá , nhưng cũng là người đẻ ra  Kỷ viện Quốc Doanh  để lấy thuế cho ngân sách nước Tề bằng thân xác của người phụ nữ

Ngay cả Khổng Tử ( Vạn thế sư biểu) trong Kinh Xuân Thu  cũng đề ra thuyết Tam Tòng để trói buộc phụ nữ luôn nô lệ cho đàn ông  « tại gia tòng phụ , xuất giá tòng phu , phu tử tòng tử » .

      Ngoài ra từ thời nhà Tống đã đẻ ra tục lệ man rợ « bó chân « tồn tại đến thế kỷ 20  đã khiến vô số phụ .      nữ bị tàn tật  và lệ thuộc vào người khác

      (xem Sự thật khủng khiếp sau tục bó chân ở Trung Quốc )

Người Việt thì từ xa xưa đã xem trọng phụ nữ  ,  trong gia đình để chỉ  người Vợ thì  gọi  là Nội Tướng       ( ngay  không là người , giống cái cũng được xem trọng  như chữ cái , sông cái , ngón cái … ) .                                                                                           Trong kho tàng văn chương VN , phụ nữ nhất là vai trò của người MẸ luôn được đề cập nhiều nhất , trang  trọng nhất .

Trong lịch sử thì không ít bậc  Anh Thư đã làm rạng danh dân tộc Việt  như  hai Bà TRƯNG  , Bà  TRIỆU , Bà Bùi Thị XUÂN (  nữ Đô Đốc tài giỏi thời Tây Sơn ) …  .

Riêng về Bà TRIỆU ( 225 – 248 ) tên thật là Triệu Thị TRINH  sinh quán tỉnh Thanh  Hoá ,  đẹp , giỏi võ nghệ có chí lớn đấu tranh chống lại sợ đô hộ tàn ác của giặc Đông Ngô , nên đã cùng Anh là Triệu Quốc ĐẠT chiêu mộ binh mã đánh chiếm quận lỵ Tư Phổ (cạnh sông Mả) của tướng Ngô – Tiết Kính Hàn  .     Vua Ngô phải cử  Lục Dận  (cháu của Lục Tổn) đem binh hùng tướng mạnh đánh nhau với Bà TRIỆU (T.Q.Đ đã chết ) ròng rã 6 tháng  .                                                                                                           Thế cùng lực tận  nghĩa quân bị tan rả ở căn cứ Bồ Điền , Bà TRIỆU tự tử chết ở tuổi 23 .

Tuy không thành công đuổi giặc Tàu , nhưng Bà TRIỆU đã lưu danh thơm muôn thủa trong sử sách VN  cũng như  đã để lại câu danh ngôn mà cả thế giới chưa có nữ lưu nào sánh nổi :                                                     “Tôi chỉ muốn cưỡi cơn gió mạnh, đạp luồng sóng dữ, chém cá trường kìnhbiển Đông, lấy lại giang sơn, dựng nền độc lập, cởi ách nô lệ, chứ không chịu khom lưng làm tì thiếp cho người ».

Bà TRIỆU , người đã khiến giặc Ngô phải vô cùng sợ hải gọi Bà là Lệ Hải Bà Vương ( thấy vương bà  sợ phải khóc ) và truyền tụng với nhau :

Hoành qua đương hổ dị,

Đối diện Bà vương nan.

Dịch:

Múa giáo đánh cọp dễ,

Đối mặt Vua Bà thì thực khó

Trong cổ sử thì ghi bà TRIỆU là TRIỆU Nữ  ( thiếu nữ họ TRIỆU) , nhưng do bản chất xấu của người Tàu  trong Giao Chỉ ký và Nam Việt chí  ( thế kỷ thứ 4 – 5 ) họ đã khinh bạc  Bà là TRIỆU ẨU ( Ẩu là mụ ) .

Ngoài ra Bà TRIỆU  rất đẹp nên được xưng tụng là Nhuỵ Kiều Tướng Quân   (vị Tướng yêu kiều )  thì Giao Chỉ ký ghi : «  vùng Thanh Hoá có thiếu nữ họ TRIỆU  vú dài 3 thước ( thước xưa bằng 40 cm nay, tức vú Bà TRIỆU dài 1m20 ) không lấy chồng , hợp đảng cướp bóc , luôn mặc áo ngắn màu vàng , cưởi voi chiến đấu , sau chết làm thần  « .

–          Về ngôn ngữ thì từ xa xưa người Việt cả nước đã có chung tiếng nói .

Trong khi người Tàu thì có đến 8 quan thoại đại phương ngôn ,  mỗi địa phương thường có tiếng nói khác nhau như tiếng Quảng , tiếng Tiều ,  tiếng Hẹ …  .nhưng phải đến cuối đời Thanh (do Chu Văn Hùng  vận động năm 1906 ) mới có tiếng quan thoại Phổ Thông  để thống nhất  ( thống nhất chữ viết nhưng về tiếng nói vẫn còn nhiều thứ khác nhau , thí dụ tiếng Thượng Hải , Đài Sơn , Khách Gia …   .

Riêng Đài Loan , ngôn ngữ chính thức tuy cũng dùng tiếng quan thoại phổ thông , nhưng qua nhiều nghiên cứu sâu rộng dựa trên cơ sở khoa học của các học giả  ĐL , gần đây người Đài Loan qua tuyên bố của các Cựu Tổng Thống Lý Đăng Huy và Trần Thuỷ Biển xác quyết  là « đảo quốc Đài Loan không phải của Tàu »  .       (xem  Đài Loan (đảo) .

Về phong tục , tập quán sống thì sự khác biệt giữa người Tàu và người Việt càng rõ nét :

Từ nghìn xưa ,do  đòi hỏi của nền nông nghiệp lúa nước  nên  người Việt cổ đã sống định cư thành làng mạc , ở nhà sàn ( để tránh thú dữ và lũ lụt ) ; di chuyển bằng ghe thuyền ; thức ăn chủ yếu là cơm , rau , củ ,quả , cá , ít thịt  , nước chấm chính là nước mắm ; cách xưng hô thì thật đa dạng  : nội , ngoại , ông , bà , cô, dì , chú , thím …  ; mặc váy , áo yếm , tứ thân , bà ba , áo dài … ;…        .

Còn người Tàu cổ theo nếp sống du mục , du canh nên lúc đầu ở trong những lều , bạt , mải  về sau cướp được lảnh thổ của Bách Việt  , do đòi hỏi của dân địa phương định canh nên đến thế kỷ thứ 11 mới sống thành làng mạc : thức ăn chính là mì , bánh bao ,  thịt , mở , nước chấm là xì dầu ( thủa xa xưa người Tàu ăn bốc sau dùng đủa như dân Việt ) ; cách xưng hô thì chỉ nị , ngộ  như moi , toi , you , me  như người Âu ;  phương tiện di chuyển chính thời du mục là ngựa  ( nên có câu ngạn ngữ để  phân biệt  phương tiện di chuyển của người Tàu và BáchViệt  là  ” mã tầm mã , chu tầm chu ”   – chu là thuyền   ) ; …   .

Cũng vì giỏi cưởi ngựa , nhưng dở  về thuyền bè nên  người Tàu trong các trận thuỷ chiến đều thảm bại :  trận Xích Bích , 2 lần xâm lăng Nhật Bản thời Nguyên – Mông  , 2 lần trên sông Bạch Đằng thời Ngô Quyền và Hưng Đạo Vương T.Q.T…(xem.Tư liệu lịch sử về các trận chiến BẠCH ĐẰNG GIANG )

………………………………………………………………………………

* Giữa người Tàu và người Việt vì  văn hoá khác nhau nên  có vô số điều khác biệt , nhưng trong phạm vi  hạn hẹp của bài viết không thể kể ra hết  .

Người Tàu khởi thuỷ sống  ở lưu vực Nam sông Hoàng Hà (với diện tích đất đai của ST , HN, TC tổng cộng là 528.800 km2) với nền văn hoá du mục cổ  Tungusic .

Sau đó nhờ xâm lăng lân bang , tiếp xúc được với những nền văn hoá khác  : VH Turkic ( Thổ Nhĩ Kỳ ), VH  Tibetan ( Khương) , VH Bách Việt trồng lúa nước.                                                                                         Họ  đã tiếp thu  vô số điều hay của những nền văn hoá này (  theo học giả Joseph Neeham  tác giả của bộ sách vĩ đại Science and Civilization in China  hơn 10.000 trang đã liệt kê 25 truyền thống mang đặc trưng của văn hoá Hoà Bình của người Việt cổ , du nhập vào đại lục Trung Quốc theo vết chân di cư của mình ) , nhưng  do bản chất cao ngạo , chuộng hư cấu và thích cường điệu nên những gì xấu Tàu luôn quy chụp cho người khác   như :

–          Khổng Tử (vạn thế sư biểu nhờ bộ kinh Xuân Thu  ghi lại những gì thấy được do ngao du  rồi đem đúc kết , hệ thống hoá  chớ không hề sáng tác – ngộ thuật nhi bất trước – ) khi ca tụng Quản Trọng đã cho rằng  :” cho đến nay dân chúng còn được hưởng ân đức  (diệt Di) của ông ấy . Không có Quản Trọng thì chúng ta ( người Tàu ) phải gióc tóc và cài áo bên trái  trở thành người mọi rợ rồi ( người Bách Việt) ” . K.T đã khéo léo dùng cái ưu điểm của văn hoá Bách việt làm lợi cho nước Tàu  , nhưng lại mạ lỵ người Bách Việt là  MỌI RỢ .

      Trong khi học giả có tư tưởng tiến bộ Lương Khải Siêu (1873 – 1929)  thừa nhận rằng: “Trung quốc có nguồn gốc du mục  nhưng nhờ bành trướng về phương Nam , tiếp xúc với nền văn hoá nông nghiệp  Bách Việt mà cuộc sống của người dân được khá hơn và nền văn hoá Hoàng Hà cũng phong phú hơn”  .

–           Người Tàu thường  cao ngạo cho là thuộc dòng dõi HÁN TỘC , nhưng không hề xác minh được là vì sao .

Nếu xét về  nguồn cội thì trước  Hán đã có Chu ,  Tần  ( Qín = Chín)  mà người Âu  phát âm là Chine .                                                                                                              Nếu xét về thời mà lảnh thổ Tàu xưa được bành trướng rộng nhất thì phải là thời nhà NGUYÊN .                                                                                                             Nếu  xét về  thời đại tồn tại lâu dài thì nhà Chu được  901 năm , nhà Hán chỉ 442 năm .

Nếu  xét về sự tài giỏi thì Hán Cao Tổ Lưu Bang  chỉ là tên vô học nhưng nhờ những người gốc Bách Việt như Tiêu Hà , Hàn Tín , Phàn Khoái ,Bành Việt … giúp mới diệt được Sở Vương Hạng Võ lập nên nhà Hán .

Nếu  xét về mặt đạo đức  thì Lã Hậu vợ của  Lưu Bang là người đàn bà độc ác nhất trong 9 phụ nữ độc ác nhất của lịch sử Tàu ( xem LÃ HẬU man rợ nhất lịch sử Trung Quốc) .

Ngoài ra Hán Vũ Đế thì hoang dâm ( có hơn 2.000 cung nữ …) hung ác , giết người không gớm tay : giết 2 Thừa Tướng , 2 Hoàng Hậu , 1 Thái Tử , 2 Công Chúa , 2 Hoàng Tôn … «  kinh đô ngập máu mấy vạn xác người «  .

…………………………………….

Có thể ( ? ) nhờ Đổng Trọng Thư (lý thuyết gia của đế quốc Hán – người ngưỡng mộ Khổng Tử ) đã ” hư cấu hoá ” triều  đại ”  Nho học độc tôn ”  đầu tiên , thành chủng tộc duy nhất mà họ mệnh danh là ” Hán tộc ” , nhưng ngay như Tôn Dật Tiên cũng đã nhận định  ” Hán tộc là một chủng tộc hư cấu ,  không đoàn kết  – (ví  như 1 chậu cát) ” :

–          Người Tàu còn có tánh xấu là những gì hay , tốt của người khác thường nhận vơ là của mình .

       Trong ”  tứ đại phát minh ”  của Tàu ( la bàn , thuốc súng , làm giấy , in ) thì :

Người chế thuốc súng và súng Thần Công đầu tiên là Hồ Nguyên Trừng ( con Hồ Quý Ly) .                                                                                                             Nếu Tàu cho là đã chế được từ đời Tống thì khi Lý Thường Kiệt và Tôn Đản đánh sang Ung Châu , Khâm Châu và Liêm Châu sao  quân Tàu không đem súng ra chống trả để khỏi bị thảm bại ? và tại sao khi diệt được nhà Hồ thì họ cần gì xử dụng H.N.T như Bộ Trưởng Bộ Công Binh để chế súng thần công ??  .

          ( Xem Quân Minh khi làm lễ tế súng đều phải tế Trừng ) .

        Người phát minh về làm giấy là Thái Luân – người Bách Việt sống thời Đông Hán

           (  Xem Thái Luân ) .

Người Tàu khoe rằng vua Thần Nông  là người đầu tiên uống trà và tục uống trà của họ  đã có từ 5.000 năm trước  (xem  Thần Nông ) .

Thực ra đời Đường , Cao Biền (làm Tiết Độ Sứ cai trị nước ta đã mang trà ngon của người Việt đem về Tàu . Do đó từ đời Đinh LIỄN  , danh sách cống  phẩm  cho Tàu có thêm  trà Tước Thiệt .

Vã lại ,vua Thần Nông sống vùng Hoàng Hà , mùa Đông lạnh -15° đến- 20°  C  cây trà làm sao sống nổi ? .

Người Tàu cho rằng đạo Phật được truyền từ Tàu sang xứ ta .

Thật ra thời Tam Quốc , chính vua Ngô Tôn Quyền đã mời thiền sư  nổi tiếng Khuông Tăng Hội  (người tỉnh Bắc Ninh- Giao Châu) sang giảng kinh , xây chùa  .

Sau đó từ trung tâm Phật giáo Luy Lâu phát triển đến Bành Thành và Lạc Dương của Tàu  (xem Thiền Sư Khương Tăng Hội )

……………………………………………………

Như nhận định của nhiều học giả quốc tế và cả người Tàu cũng thừa nhận là “  bản chất của người Tàu : cao ngạo , không đoàn kết và hiếu chiến … “  nên nước có chiến tranh triền miên  (đi xâm lược , nội loạn, bị đô hộ ) , đến cuối hậu bán thế kỷ thứ 20 , nước Tàu vẫn chưa phát triển , đa số dân ít học  , sống về nông nghiệp vất vả , nghèo khó, … do đó họ thường  phải di cư đến sống ở những xứ khác  .

Người Tàu đến VN  thường để tránh hoạ binh đao ( kể cả Mạc Cửu , Trần Thắng Tài , Dương Ngạn Địch … ) hoặc vì nghèo khó … chẳng mấy ai tiếp thu được Tứ Thư , Ngũ Kinh  , nên nhìn chung trình độ hiểu biết không nhiều , do đó cũng dễ bị phĩnh như :

Thờ Quan Thánh Đế Quân , trong khi Quan Công ( Quan Vân Trường )  nhân vật thực thời Tam Quốc chỉ là viên Tướng hữu dỏng vô mưu , cao ngạo … , được La Quán Trung ở  thế kỷ  14 đánh bóng , thêm thắt  tính TRUNG – DŨNG vào  bộ tam quốc chí của Trần Thọ   tk 3 .

Nhà Thanh sau đó , huyền thoại hoá  QC để phục vụ cho ý đồ «  hoá giải phong trào phản Thanh , phục Minh của Thiên Địa Hội « .

Thờ Bà Thiên Hậu Thánh Mẫu  , thời nhà Tống cách nay hơn  900 năm , ở tỉnh  Phúc Kiến , cô gái dệt vải tên Lâm Mặc Nương   nhờ ”  thần giao cách cảm  hay  thiên lý nhãn ”   thấy được cha và anh đang gặp nạn ngoài biển  (ghe chìm vì bị bảo) bèn đưa tay cứu vớt được người anh …  .  (xem Thiên Hậu Thánh mẫu ) .                                                                                                                                                   Vua Tống  sắc phong cho bà L.M.N  là  Thần Nữ .                                                                                   Sau này được dân  chúng thờ phụng như vị thần phù hộ cho người đi trên sông biển .

Thờ Ông Bổn , tức Bổn Quốc Công Trịnh Hoà , ông này gốc người Á Rạp đạo Hồi tên Mã Hoà , Mã Tam Bảo .                                                                                                                                                        Năm 1382 , Chu Đế vâng lệnh cha là Minh Thái Tổ đi bình định Côn Minh diệt ổ kháng cự  Mông Cổ và tàn sát tất cả ai sống sót – trong đó có cha của Mã Hoà  . Lúc đó M.H  11 tuổi chỉ bị thiến , bắt làm thái giám , đổi tên là Trịnh Hoà  phục vụ cho hoàng tử Chu Đế  và rất được tin dùng .                                                                                                                                  Sau khi Minh Thái Tổ chết , Lưu Đế thành công trong việc tranh ngôi với Huệ Đế . H.Đ  phải chạy ra biển trốn .                                                                                                                                                                      Để trừ hậu hoạ , vua Vĩnh Lạc ( Chu Đế ) phong cho Trịnh Hoà làm Đô Đốc ( dù chưa bao giờ đi biển ) lập 1 đoàn thuyền truy nả Huệ Đế ,  nhưng không tìm được  .                                                                              Từ 1405 Đến 1422 , Trịnh Hoà thực hiện 6 chuyến hải trình , lần thứ 4 đến tận Ba Tư , lần 5 và 6 đến tận Somalia và Kenya .                                                                                                                                                Năm 1435 , Minh Tuyên Tông qua đời , nước Tàu theo chính sách ” bế quan toả cảng” nên đoàn thuyền của T.H hoàn toàn nằm ụ và các tài liệu về các cuộc hải trình bị tiêu huỷ  … ( xem Trịnh Hòa ) .

Như vậy , đoàn thuyền của Trịnh Hoà đi lại trên biển TBD và ÂĐD mục đích lúc đầu là để truy nả Huệ Vương  , nhân tiện là giao tế và thương mại chớ không hề có ý khám phá và chiếm hữu .                                                                                                                                       Riêng việc Tưởng Giới Thạch năm 1949 và hiện nay Trung Cộng tuyên bố chủ quyền về đường lưỡi bò trên biển Đông thì theo Toà Án Quốc Tế La Haye  là hoàn toàn phi pháp

( xem “Đường lưỡi bò” được “sáng tác” ra sao?   và Toàn văn thông cáo phán quyết của tòa trọng tài về ‘đường lưỡi bò … )

đường lưỡi bò.jpg

                                                          Bản đồ đường lưỡi bò

Với phán quyết của toà án La Haye về đường lưỡi bò 9 đoạn khiến cho cả thế giới biết thêm về sự tham lam của  người Tàu , nhưng với các nước lân bang của Tàu thì chẳng có gì lạ vì nó là sự tiếp nối của ”  Hội Chứng Đại Hán Tộc ” tức chủ nghĩa Bành Trướng có từ Tần Thuỷ Hoàng , Lưu Bang đến Tưởng Giới Thạch , Mao Trạch Đông hay Tập Cận Bình hiện nay ( Tàu có diện tích xưa là 528.800 km2  , nay xấp xỉ 9,6 triệu km2 ) .

Từ thập niên 80 của thế kỷ 20 , do tính toán sai lầm của Hoa Kỳ , các nước tư bản đổ xô đến vổ béo cho Tàu khiến họ trở thành cường quốc kinh tế đứng thứ 2 thế giới .                                                                   “ Mạnh vì gạo , bạo vì tiền “  , nhờ giàu có chủ nghĩa bành trướng  của Tàu ngày nay đang là cái hoạ của thế giới .

Riêng Việt Nam , từ  Tần Thuỷ Hoàng đã muốn chiếm VN để tiến sâu xuống phương Nam , nhưng dù trăm phương nghìn  kế , hơn 2 thiên niên kỹ qua , Tàu vẫn không nhổ được cái gai VN .

Trước năm 1975 , người Việt ở miền Nam với dân tộc tính kiên cường , bất khuất , vừa chiến đấu chống kẻ thù hung hiểm  , vừa xây dựng đất nước , ngoài ra còn  là tiền đồn của thế giới tự do ngăn  sự bành trướng của  CS muốn nhuộm đỏ vùng Đông Nam Á .

Chính Cựu Thủ Tướng Singapore đã thú nhận : “  nếu không có VNCH và máu của người Việt  thì các nước ĐNA không có thời giờ để tạo được sự phồn thịnh như hiện nay ”  .

Tiếc thay , vì sự phản bội của đồng minh , đã bán đứng VN cho lũ hậu duệ của Trần Ích Tắc , Lê Chiêu Thống tôn thờ  chủ nghĩa ngoại lai độc hại đã khiến VN trở nên nghèo nàn , lạc hậu và đang trên đà mất nước .

Kẻ thù truyền kiếp của VN là Tàu .                                                                                                          Rút kinh nghiệm mấy nghìn năm thất bại , Tàu Cộng hiện nay đang dụng sách lược mới cực kỳ hiểm độc ,  đồng lúc tấn công VN trên mọi lảnh vực : quân sự  ( cướp HS , TS , vùng biên giới…) , kinh tế  , đầu độc dân Việt ( về thức ăn , thức uống) , khống chế  nước thượng nguồn để huỷ diệt nền nông nghiệp VN vùng đồng bằng Cửu Long và sông Hồng  , …   .                                                                                                                          Nhưng hiểm độc nhất là TC dùng  văn hoá du mục , nguỵ trang thêm cái mặt nạ Khổng Nho xảo quyệt * ( sẽ chứng minh sau  ) với sự tiếp tay của đảng cướp VC  để huỷ diệt dân tộc tính truyền thống  của VN , khiến tuổi trẻ VN mất định hướng tương lai , trở nên bạc nhược , không còn ý chí đấu tranh .

Mất đất đai ,mất  tài nguyên , trở nên nghèo nàn … là QUỐC NẠN  tuy cũng nguy hiểm nhưng nếu ta giữ vững tinh thần dân tộc thì  vẫn có ngày   tạo dựng lại được   ( gương Do Thái  ) .

Nhưng nếu  đánh mất dân tộc tính , để cho văn hoá ngoại lai CS ngự trị thì đó là  DÂN TỘC  NẠN  , chắc chắn  nước sẽ mất  , dân tộc sẽ bị diệt vong .

Chuyện liên quan giữa nước ta và nước  Tàu thì dù viết trăm quyển sách vẫn chưa nói đũ , nhưng vì vận mệnh cực kỳ đen tối của đất nước , tôi viết bài này chỉ với mục đích góp tiếng chuông báo động , thiết  tha kêu gọi  những ai còn thờ ơ ,  vô cảm , hảy sớm thức tỉnh để cùng cả dân tộc đoàn kết ,  khôi phục lại   truyền thống kiêu hùng của cha – ông  , dẹp tan kẻ nội thù và ngoại xâm để kiến tạo nước Việt Nam phú cường .

Paris , 16.01.2017

    HQ.tkd

(Xem thêm  Người Trung Quốc Xấu Xí – Bá Dương)

Publié par Kim Diep TRAN à 07:50

Envoyer par e-mailBlogThis!Partager sur TwitterPartager sur FacebookPartager sur Pinterest

Aucun commentaire:

Enregistrer un commentaire

Article plus ancien Accueil

Inscription à : Publier les commentaires (Atom)

Qui êtes-vous ?

Kim Diep TRAN
Afficher mon profil complet

Archives du blog

Advertisements
This entry was posted in Tài liệu, Uncategorized. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s