THƯ MỜI THAM DỰ ĐẠI HỘI KHOÁNG ĐẠI CĐNVQG HOA KỲ 2021 & BẦU CỬ TÂN HỘI ĐỒNG ĐẠI DIỆN (Nhiệm Kỳ 2021-2024)


THƯ MỜI
THAM DỰ ĐẠI HỘI KHOÁNG ĐẠI CĐNVQG HOA KỲ 2021
& BẦU CỬ TÂN HỘI ĐỒNG ĐẠI DIỆN (Nhiệm Kỳ 2021-2024)


Kính gởi:

Quý vị đại diện các Cộng Đồng Địa Phương và Hội Đoàn

Nhằm mục đích kết nối và tạo điều kiện cho các Cộng Đồng người Việt hải ngoại có cơ
hội gặp gỡ, trao đổi kinh nghiệm và chia sẻ những sinh hoạt, Cộng Đồng Người Việt Quốc
Gia Hoa Kỳ trân trọng kính mời quý vị vui lòng dành thời gian về tham dự Đại hội khoáng
đại 2021 và Bầu cử Hội Đồng Đại Diện, Nhiệm Kỳ 2021-2024 tại:

Thành phố Atlanta, Tiểu bang Georgia
Khai mạc thứ Sáu ngày 5 tháng 11, 2021 lúc 7:00 PM
Bế mạc thứ Bảy ngày 6 tháng 11, 2021 lúc 11:00 PM
Địa điểm hội trường: 4500 Satellite Blvd #1240, Duluth, GA 30096

Mục đích chính của 2 ngày đại hội như sau:

 Chia sẻ kinh nghiệm sinh hoạt của các Cộng đồng Địa phương và HĐ Đại diện
 Vinh danh các Cộng đồng có những hoạt động nổi bật và hiệu quả
 Soạn thảo chương trình hoạt động cụ thể cho CĐNVQG HK (NK 2021-2024)
 Bầu Tân Hội Đồng Đại Diện CĐNVQG HK (NK 2021-2024)
Vì đại dịch Covid-19, chúng ta đã không thể tổ chức đại hội khoáng đại trong năm 2020
được như dự tính. Vì vậy, chúng tôi mong mỏi quý vị bỏ chút thời giờ tham dự đầy đủ Đại
hội khoáng đại năm nay, và cũng xin kêu gọi sự dấn thân tham gia ứng cử vào các cơ cấu
của Hội đồng đại diện. Tinh thần ứng cử và sự hiện diện của quý vị Cộng đồng nói lên mối
quan tâm để duy trì tiếng nói chung của người Việt Quốc Gia hải ngoại, là niềm khích lệ để
đại hội được thành công tốt đẹp và tổ chức CĐNVQG HK đáp ứng được những nhu cầu cấp
bách của cộng đồng người Việt tỵ nạn tại Hoa Kỳ.
Xin quý vị hồi đáp trước ngày 15 tháng 10 năm 2021.
Kính chào trong tinh thần đoàn kết và hẹn gặp lại.

Atlanta, Ngày 10 tháng 9 năm 2021
TM. Ban Tổ Chức Đại Hội CĐNVQG Hoa Kỳ

Nguyễn T. Trà My

Posted in Thông Báo, Tin Cộng Đồng, Tin tức thời sự | Leave a comment

Huy Phương – Chúc thư

Tôi người lính già  xa tổ quốc
Xa chiến trường lưu lạc tới đây
Nơi quê người sương pha tuyết đổ
Mang nỗi đau con ngựa lạc bầy.
Ngày tôi bỏ đi, bạn bè đồng đội
Vẫn hiên ngang đến phút sau cùng
Đã tự hiến thân mình cho tổ quốc
Thắng hay thua thì cũng vẫn can trường.

Không phải chỉ chịu ơn người đã chết
Tôi như còn mang món nợ nước non.
Chết không nghĩa là đã tắt hơi thở
Sống đôi khi cũng có nghĩa chết mòn.
Khi tôi chết ván hòm xin đậy nắp
Có vui chi nhìn người lính chết già
Hổ thẹn đã không tròn ơn nước
Tiễn tôi chi, thêm phí một vòng hoa.

Hãy quên tôi, người lính già lưu lạc
Đừng phủ lá cờ tổ quốc cho tôi
Anh em tôi trong những giờ tuyệt lộ
Nằm lại bờ lúc chiến hạm ra khơi.
Chiến hữu tôi chết đầu sông cuối biển
Ngày tan hàng đành nằm lại quê hương
Không ai trổi cho khúc kèn truy điệu
Không có ai phủ giúp ngọn cờ vàng.
Hãy phủ cờ lên nấm mồ tử sĩ
Xác bị xới đào trong nghĩa trang xưa
Hãy rải hoa trên con đường thấm máu
Phút lui binh phải gãy súng buông cờ.
Anh là ai, mang ngọn cờ tổ quốc
Nhân danh ai, đứng phủ lá quốc kỳ.
Chúng ta là những con người bỏ ngũ
Quên anh em nằm lại, để ra đi.

Ta lành lặn để bao người thương tật
Ta sum vầy đành để bạn chia phôi
Ta đến bến để bao người chết biển
Dù ấm êm cũng thương nhớ một đời.
Danh dự này dành cho người đã chết
Đã hy sinh để giữ vững ngọn cờ
Không phải tôi, người lính hèn bỏ ngũ
Để sống còn trong lúc bạn sa cơ…

Huy Phương.

Posted in Tản mạn, Thơ văn đấu tranh | Leave a comment

Nói Chuyện Tác Phẩm và Tác Quyền

Đỗ Văn Phúc

Nói đến chữ “Tác” tức là làm ra bất cứ thứ gì. Tác giả là người làm ra một vật gì mà chưa ai trước đó đã làm. Bài này xin gói gọn trong các tác phẩm văn học: sách, truyện, tranh ảnh.

Tên tác giả luôn ở trang bià các truyện dịch

Một nhà văn phải vận dụng trí não nghĩ ra cốt truyện độc đáo với những nhân vật mà diễn biến tâm lý, hành vi lồng trong các tình tiết éo le, sôi nổi sao cho hấp dẫn người đọc. Có vị sáng tác mạnh, cho ra đời hàng loạt tác phẩm; nhưng cũng có vị trọn đời chỉ có một vài tác phẩm và thường là tác phẩm nổi tiếng trên thế giới.

Chỉ có nhà văn mới có tác quyền (copyright, authorship) và chủ quyền (ownership) hoàn toàn về tác phẩm của mình. Người Tây Phương coi trọng tác quyền này. Tại Mỹ, theo Điều 17 bộ Luật Hoa Kỳ (United States Code), để xác nhận tác quyền, tác giả phải nộp hồ sơ đăng bạ tại Văn Phòng Tác Quyền của Thư Viện Quốc Hội Hoa Kỳ (Copyright office of the Library of Congress). Từ đó, bất cứ ai muốn sử dụng tác phẩm để trích đăng hay dịch lại qua ngôn ngữ khác… đều phải xin phép tác giả và được sự cho phép trước. Luật áp dụng khắt khe hơn nếu sử dụng vào việc thương mại. Còn nếu chỉ trích đăng một câu, một đoạn, thì phải ghi chú nguồn của nó tức là tên tác giả, từ tác phẩm nào. Dân Tây họ rất kỹ về việc này. Việc đạo văn là một điều rất xấu xa, bị lên án gắt gao.  Quý vị thử vào thư viện hay lên online, để thấy tất cả những cuốn sách dịch, họ đều in tên tác giả một cách trang trọng ở trang bìa. Còn tên tác giả, thường được ghi với khổ nhỏ, khiêm tốn ở trang bên trong.  Rất ít khi thấy tên người dịch ở bìa, và nếu có thì in chữ nhỏ mà thôi.

Hơn 2500 năm trước, có những người xưa đã rất lương thiện khi không nhận vơ của người khác làm của mình. Cụ Khổng Tử khi san định lại các sách vở của Nho Giáo thành các bộ Tứ Thư, Ngũ Kinh, đã thú nhận rằng “Tôi chỉ thuật  lại mà không sáng tác ra chúng” (Ngã thuật nhi bất tác). Người xưa hàng ngàn năm còn có lòng tự trọng như thế. Còn người sau thì sao?

Các nhà văn Việt Nam ta trước đây hình như không quan tâm đến nguyên tắc tôn trọng tác quyền của người khác. Họ dịch các sách hay của các nhà văn ngoại quốc rồi “quên” ghi tên tác giả mà chỉ in tên mình lên trang bìa coi như đó là sáng tác của mình. Lẽ ra họ phải ý thức rằng cuốn sách hay là sản phẩm trí tuệ của một người bỏ bao nhiêu công sức; còn anh địch giả chỉ làm một việc chuyển ngôn ngữ này qua ngôn ngữ kia. Tuy cũng cần khả năng sinh ngữ và khả năng viết văn cho hay, hấp dẫn. Nhưng họ không thể nhận đó là TÁC phẩm của mình!.

Thời còn học sinh, chúng tôi từng say mê đọc các cuốn Tâm Hồn Cao Thượng “của” cụ Hà Mai Anh. Trên trang bìa thấy tên Hà Mai Anh nằm ở vị trí cao nhất và không hề thấy tên tác giả khác! Thật ra đây là tập truyện ngắn nhan đề “Cuore”, của nhà văn Ý Edmondo de Amicis, phát hành năm 1886. Cuốn này được dịch ra nhiều thứ tiếng phát hành khắp thế giới để giáo dục thiếu niên lòng tự trọng, lòng yêu nước, lòng nhân ái… Cuốn Anh ngữ nhan đề là Heart.

Những truyện do nhà văn Việt Nam dịch, chỉ thấy tên người dịch!

Và còn nhiều lắm. Như Dương Hà với “Bên Dòng Sông Trẹm” (Le Fils de Personne của Vindi), bà Tùng Lòng với hàng loạt truyện ngắn mang tính xã hội dịch từ truyện của các tác giả Pháp mà điển hình là “Xâu Chuỗi Ngọc” (The Necklace của Guy de Maupassant); cụ Hồ Biểu Chánh thì có “Ngọn Cỏ Gió Đùa” (Les Miserables của Victor Hugo)… Các nhà văn này bê nguyên truyện, nhưng xóa hết tung tích, nguồn gốc Tây Phương bằng cách cho các nhân vật những tên rất Việt Nam, nào Thuý, nào Lan, nào Hùng… ; và cũng Việt hoá luôn các địa danh.

Thời đó, mọi người đều đinh ninh rằng các ông bà nói trên là tác giả và ca tụng không tiếc lời về văn tài của họ!

Ông Hoàng Hải Thủy thì chuyên dịch truyện trinh thám ăn khách của ngoại quốc. Ông cũng có chút lương thiện khi nhận mình phóng tác, vì có công thay đổi họ tên, địa danh cho ra vẻ Việt Nam. Nhưng ông cũng in tên ông là tác giả trên hàng chục cuốn như Ngoài Cửa Thiên Đường, Vàng Đen Máu Đỏ, Như Chuyện Thần Tiên, Mang Xuống Tuyền Đài… Với các tác giả nổi tiếng, thì ông có chút lương thiện hơn một bậc, mới cho in thêm tên tác giả ở trang bìa nhưng cũng không quên ghi thêm tên mình dưới đó!. . Ví dụ: Kiều Giang (Jane Eyre của Charlotte Bronte), Đỉnh Gió Hú (The Wuthering Height của Emily Bronte).

Chợt nhớ lại, mấy trăm năm trước, cụ Nguyễn Du cũng lấy trọn vẹn “Kim Vân Kiều Truyện” là một truyện rất tầm thường của Trung Hoa mà viết thành thơ lục bát tiếng Việt . Đó là Đoạn Trường Tân Thanh mà các học giả Việt ca tụng là áng văn bất hủ của nền văn học Việt qua câu: “Truyện Kiều còn, nước ta còn!”

Sở dĩ chúng tôi nêu ra các trường hợp trên, không phải là để chê bai các cụ. Có thể vào thời đó, luật pháp Việt Nam chưa đặt nặng luật tác quyền và ý thức về tác quyền chưa hình thành trong các tầng lớp xã hội ta. Vì thế, các cụ cứ dịch sách người rồi in, phổ biến mà không biết mình có bổn phận phải ghi tên tác giả thay vì tên của mình!

Đa số các cuốn sách mà tôi viết ra mấy chục năm qua đều có đăng bạ tại Thư Viện Quốc Hội. Đến đầu năm ngoái 2020, khi gửi hồ sơ cuốn Remembering the ARVN, tôi đã phải thư từ, điện thoại qua lại với một quý bà phụ trách ở Sở Tác Quyền là bà Janice Pena, để phân biệt rạch ròi những phần nào trong sách thuộc về tác quyền của tôi; phần nào thuộc tác quyền người khác.

Theo bà Janice Pena, “authorship” là thuộc về người đầu tiên đã tạo ra cái đó. Người vẽ lại, chụp lại các phù hiệu đó dù bỏ bao nhiêu công lao, cũng không thể tự cho mình có tác quyền. (Trích email của bà Pena: “Copyright protects “original works of authorship” that are fixed in any tangible medium of expression.  To be regarded as an “original work of authorship,” a work must contain a certain minimum amount of original literary, pictorial, musical, or other copyrightable material.  An illustration that merely copies an existing artwork does not add any new original copyrightable authorship to the existing work to support a registration.  Copyright does not protect your idea for creating the copies of the artwork, nor does it protect the time and effort it took you to do soThat original artwork was created by whoever designed the insignia”).

Như vậy, tác quyền về các phù hiệu, huy hiệu thuộc về hoạ sĩ vẽ mẫu. Sau đó đã trao cho các đơn vị quân đội, hay nói chung, là Bộ Tổng Tham Mưu Quân Lực Việt Nam Cộng Hòa. Ngày nay, Quân Đội VNCH không còn hiện hữu nên không còn ai giữ tác quyền, mà đã trở thành của công chúng. Vì thế, trong tập sách Remembering the ARVN nói trên, chúng tôi chỉ có tác quyền về những hình vẽ mới do chính chúng tôi vẽ ra và các đoạn văn mà thôi.

Từ khi chúng tôi đưa ra hình ảnh các trang phù hiệu, nhiều người, nhiều hội đoàn, báo chí đã sử dụng rộng rãi. Không có gì đáng phàn nàn trừ vài trường hợp có vài vị cho in thêm watermark chồng lên hình để xác nhận chủ quyền của họ!

Còn về các bài viết, chúng tôi rất hân hạnh khi các báo chí diễn đàn cho đăng tải miễn là không sửa câu văn, thêm bớt chữ làm sai ý và cần ghi đúng tên tác giả. Nhớ lại đầu năm 2004, là ngày giỗ đầu ca sĩ Duy Khánh, tôi viết 1 bài dài đăng nhiều báo và đọc 2 kỳ trên các đài phát thanh. Anh nhà báo văn nghệ TK có gửi email hỏi xin tôi tiểu sử Duy Khánh cũng để viết bài kỷ niệm. Tôi gửi bài cho anh ta tham khảo. Mấy tuần sau, thấy bài này đăng trên TV Tuần San ở Australia và đọc trên đài VOA (có thêm 1 vài câu dẫn nhập của TK) với tên tác giả TK! Khi chúng tôi gửi thư phàn nàn, đài VOA làm thinh không trả lời; còn anh TK thì nói rằng vì thấy bài viết quá đầy đủ nên anh không thấy cần viết lại!!!??? Rồi thì cũng chín bỏ làm mười, tranh tụng thêm mất thì giờ và gây thêm mất đoàn kết trong anh em báo chí văn nghệ!

Cái gì của Caesar, hãy trả lại cho Caesar!

Mong sao, những người viết hải ngoại tránh lâm vào lỗi tác quyền này!

Texas, ngày Lễ Lao Động 6 tháng 9, 2021.

Posted in Diễn đàn | Leave a comment

Chiếc ghế lãnh đạo thế giới của Hoa Kỳ chỉ còn 3 chân!

Nhân vụ Afghanistan, xét qua vị trí tương lai của Mỹ trên thế giới.

Đỗ Văn Phúc

Đệ Nhị Thế Chiến kết thúc, người hùng Hoa Kỳ trở nên một cường quốc vô địch vừa về quân sự vừa về kinh tế.

Quân Mỹ bảo vệ di tản tại Kabul, Afghanistan

Là một nước công nghiệp tiên tiến, với nền kinh tế tiêu thụ đại chúng, hàng hoá vật chất sung mãn, người dân Mỹ sống một cuộc sống như trên thiên đàng. Hoa Kỳ trở thành miền đất trong mơ của hàng triệu người trên thế giới.

Do đó, với tinh thần khai phá, với tính tự mãn, từ sau 1945, Hoa Kỳ quyền lực vô song và tham vọng lớn lao, tự đặt cho mình hai sứ mạng lớn trên bình diện quốc tế: (1) vai trò “Cảnh Sát Toàn Cầu” (Global Policeman) để theo dõi và cưỡng chế, giúp giải quyết các tranh chấp các khu vực trên năm châu, duy trì trật tự thế giới; và (2) vai trò “Xây dựng Quốc gia” (Nation Builder) nhằm đem mầm mống dân chủ tự do gieo rắc đến những đất nước còn lạc hậu.

Sau Thế Chiến 2, thế giới bị chia làm hai cực Tư Bản và Cộng Sản, cuộc chiến tranh lạnh bắt đầu hình thành. Học thuyết Truman do Tổng Thống Hoa Kỳ Harry Truman đề ra hứa hẹn giúp đỡ các quốc gia phe thế giới tự do ngăn chặn làn sóng đỏ từ Liên Sô “…it was an era of aggressive peacetime policy which marked the beginning of America’s role as global policeman”. Hơn nửa thế kỷ, Hoa Kỳ và Liên Sô cùng miễn cưỡng chấp nhận vai trò của đối thủ nhằm giữ cho thế giới không bị rơi vào hỗn loạn đưa đến chiến tranh nguyên tử mà chắc sẽ hủy diệt nhân loại. Đến năm 1991, thời cực thịnh của Hoa Kỳ dưới quyền Tổng Thống Reagan với công đầu xoá sổ Liên Bang Sô Viết và khối Đông Âu. Hoa Kỳ nắm độc quyền và chuyển mũi dùi qua kẻ thù mới là các lực lượng khủng bố Hồi Giáo.

Trong cả hai giai đoạn này, lúc nào cũng có gần hai trăm ngàn quân Mỹ ở hơn 100 quốc gia để trấn đóng và có khi can thiệp trực tiếp  vào chiến cuộc. Vào thời điểm ngày hôm nay, có 131,462 quân Mỹ đóng ở Đông Á, Đông Nam Á và Thái Bình Dương, 64,190 ở Âu Châu, hơn 23 ngàn ở các nước Trung và Nam Mỹ, 11,217 ở Nam Á, Trung Á, Tây Á, Nam Á và Ấn Dộ Dương. Các nước có đông quân sĩ Hoa Kỳ được kể là: Đức (25,486), Nam Hàn (26,326 người), Anh Quốc (9,515), Bahrain (4008), Spain (3,256), Turkey (1808), Saudi Arabia (1520), Belgium (1170), Kuwait (1146).

Hoa Kỳ đã trực tiếp nhúng tay vào chiến cuộc tại trên dưới 50 nước; có khi là nội chiến, có khi là chiến tranh ý thức hệ, hay chống khủng bố, và cũng có khi là chiến tranh chống găng tơ mua bán ma túy…  Trong suốt hơn 70 năm qua, quân số tham chiến của Hoa Kỳ cao nhất là trong chiến tranh Việt Nam với hơn 2.7 triệu binh sĩ lượt tham chiến và ở mức cao nhất trong một thời điểm là hơn 543 ngàn quân vào tháng 9 năm 1969.

Những thất bại của Hoa Kỳ

Nhưng đáng nói là trong đa số những cuộc chiến đó, Hoa Kỳ đều gánh lấy thảm bại. Hoa Kỳ đã nhiều lần rút quân, bỏ rơi đồng minh sau hàng chục năm có mặt với hàng chục tỷ đô la viện trợ, hàng chục ngàn ngàn thanh niên Mỹ hy sinh hay thương tật, bội ước bao lần những lời hứa sắt đá…Nơi nào còm bám lại thì cũng nhượng bước cho các lãnh tụ độc tài hay gánh lấy sự thù ghét của dân chúng bản địa. Hậu quả đau đớn nhất là mất hết niềm tin nơi các đồng minh còn lại và làm cho kẻ thù có thêm cơ sở để lấn tới. Mới đây nhất là sự rút quân đột ngột ở Afghanistan sau hơn 20 năm can thiệp, chi tốn cả ngàn tỷ đô la, mất đi 2448 sinh mạng lính Mỹ, 3846 sinh mạng nhân viên dân sự Mỹ, và khoảng 2000 binh sĩ, dân chính các nước đồng minh khác. Đổi lại là con số không to tướng và sự sụp đổ uy tín và niềm tin trước cộng luận quốc tế.

Đi đôi với thất bại về quân sự, Hoa Kỳ cũng không đạt được thành công trong sứ mạng “Xây Dựng Quốc Gia”.

Họ đã quá hãnh tiến và tự cho mô hình dân chủ của mình là tối ưu để có thể áp đặt lên bất cứ quốc gia nào! Họ quên rằng mỗi nước có những đặc thù riêng về văn hoá, xã hội, kinh tế… mà bất cứ mô hình nào cũng phải được xem lại, sửa đổi sao cho phù hợp với hoàn cảnh từng nơi.

Lấy Việt Nam làm thí dụ.

Năm 1954, Hoa Kỳ bước chân vào Việt Nam thay thế Pháp để giúp xây dựng nền Cộng Hoà mới mẻ tại miền Nam. Nước ta đang ở trong tình trạng lạc hậu vừa về kinh tế, vừa về chính trị. Có thể nói Việt Nam lúc đó còn ở trạng thái kinh tế nông nghiệp với 80% dân số sống ở nông thôn, chưa hề quen với ngọn đèn điện, hay công cụ cơ giới; chưa có chút điều kiện nào cho sự chuyển tiếp lên nền kinh tế phát triển.

Về tâm lý chính trị, Việt Nam thời đó vừa qua khỏi hàng ngàn năm quân chủ mà ảnh hưởng Nho Giáo đã thâm nhập sâu xa vào đời sống. Họ chỉ có một tâm lý tôn trọng tuyệt đối vương quyền, an tâm với số mệnh do trời định đoạt. Trình độ dân trí thì rất thấp. Đa số không biết chữ. Vì thế khái niệm về dân chủ, cộng hoà là những gì xa vời mà họ chưa từng nghe đến. Ngay trong số 20% còn lại sống ở thành thị, thì cũng chỉ có số rất ít ỏi người hấp thụ nền học vấn Tây Phương để hiểu sự vận hành của các chế độ dân chủ! Một trăm năm dưới sự đô hộ của Pháp cũng chỉ đào tạo ra một tầng lớp thư lại để phục tùng, phục vụ quyền lợi của chủ Tây.

Người Mỹ đem vào môi trường lạc hậu này nào là tự do cá nhân, tự do báo chí, nào là tam quyền phân lập, dân chủ trong bầu cử, ứng cử… và cho rằng dân Việt Nam sẽ hân hoan đón nhận ngay. Họ quên rằng Việt Nam chưa có nền móng cho những thứ xa xỉ đó. Trẻ sơ sinh trước khi bước đi, thì phải qua các giai đoạn lật, bò…

Vào những năm cuối thập niên 1950, đầu thập niên 1960 mà có được những lãnh tụ như ông Ngô Đình Diệm, Ngô Đình Nhu thì thật là hiếm hoi. Các ông dù tân tiến đến đâu, dù từng có thời gian quan sát, học hỏi ở ngoại quốc, cũng chưa thoát ra khỏi những khái niệm truyền thống sót lại từ ngàn năm. Khi ông Diệm về nước chấp chánh ngày 7 tháng 7 năm 1954; rồi được bầu làm Tổng Thống đầu tiên của nước Cộng Hoà sơ khai; chung quanh ông chẳng có mấy bạn bè, đồng chí, mà chỉ toàn là kẻ thù hăm hẹ triệt hạ ông để dành quyền bính bảo vệ các đặc quyền đặc lợi bất chính của họ. Ông phải tin dùng ai nếu không phải là người em có nhiều kiến thức chính trị cấp tiến? Ông sẽ đặt vào các chức vụ then chốt những ai nếu không phải là người ông từng biết qua và có phần tin tưởng vào họ?

Việc xây dựng hạ tầng làm nền tảng cho chế độ dân chủ đã được ông tiến hành từ từ, có lớp lang chứ không thể nóng vội. Trước hết là lập hiến, lập pháp, lập quy. Nâng cao dân trí, giáo dục chính trị căn bản, đào tạo cán bộ hạ tầng, tu nghiệp công chức thượng tầng… Hoa Kỳ không có kiên nhẫn chờ thực hiện diễn trình này. Họ cứ coi chính quyền Ngô Đình Diệm là trở lực chính của sự phát triển dân chủ. 

Chưa nói tới vấn đề chiến lược quân sự khi chính quyền ông Diệm, vốn hiểu biết về Cộng Sản Đông Dương và cuộc chiến mà Mao Trạch Đông gọi là Chiến Tranh Nhân Dân. Ông Nhu đã đề ra thuyết Cần Lao Nhân Vị để dối phó với thuyết Mác Xít; đã áp dụng quốc sách Ấp Chiến Lược để ngăn cộng quân xâm nhập vào dân chúng; đã mời những nhà quân sự kinh nghiệm để huấn luyên quân đội những chiến thuật chống du kích thay vì chấp nhận cho quân Mỹ tham chiến trực tiếp làm mất chính nghĩa quốc gia để Cộng Sản có cơ hội tuyên truyền lừa gạt dân chúng và quốc tế! Những chương trình này đang chứng tỏ sự thành công thì người Mỹ bất bình vì khó thuyết phục ông Diệm làm theo ý họ. Họ phụ hoạ với kẻ thù ông Diệm mà ai cũng biết là có bàn tay Cộng Sản dính vào, la toáng lên nào là gia đình trị, nào là độc tài rồi nhẫn tâm bật đèn xanh cho đám tướng lãnh hạ bệ và sát hại ông để đưa lên những đám vô tài chỉ biết xâu xé tranh quyền và ngoan ngoãn, dễ bảo. Việt Nam Cộng Hoà phải mất 2 năm sau mới ổn định để tiếp tục các chương trình củng cố dân chủ, cải cách dân sinh.

Nhưng rồi cuối cùng sau hai mươi năm can thiệp, vì chia chác quyền lợi giữa các siêu cường, Hoa Kỳ đành bỏ rơi Việt Nam Cộng Hòa sau khi chỉ tay vào chê trách chính phủ miền Nam tham những, quân đội miền Nam không chịu chiến đấu! Hình như đó là hai lý do nằm lòng mà Hoa Kỳ luôn viện dẫn ra mỗi khi bỏ cuộc tháo chạy khỏi chiến trường.

Hoa Kỳ không chịu tự học những bài học diễn ra quá nhiều lần trong quá khứ: Hoa Kỳ không thắng được các cuộc chiến vì nhiều lý do mà chính yếu là:

1. Họ không thực lòng muốn thắng, dù lúc ban đầu tuyên bố hung hăng lắm. “I am not going to lose Vietnam. I am not going to be the president who saw Southeast Asia go the way China went.” (President Lyndon Johnson, 24 tháng 11, 1963)  Cho đến khi chiến cuộc đi đến hồi quyết liệt, hao quân tổn tướng, Hoa Kỳ bắt đầu bị dư  luận quốc nội la ó, phản đối, và phần lớn do như cầu tranh cử, hứa hẹn, các chính trị gia Mỷ bắt đầu đổi giọng, thay màu.

 2. Chiến lược của Mỹ vì thế thiếu nhất quán mà thay đổi đảo qua, đảo lại tùy theo mỗi nhiệm kỳ tùy đảng nào nắm hành pháp hay nắm đa số ở Quốc Hội. Trong khi đó, thì kẻ thù từ nhiều năm vẫn trước sau như một với quyết tâm dứt khoát phải chiến thắng, dù hy sinh đến người cuối cùng!

3. Hoa Kỳ tham chiến, nhưng quyền điều khiển là từ ở Toà Bạch Cung, Quốc Hội và Ngũ Giác Đài, đa số nằm trong tay các chính khách dân sự chưa hề cầm súng nói chi đến kiến thức về quân sự!

4. Và một điều rất quan trọng: Khi xảy ra chiến tranh giữa một nước văn minh dân chủ với một kẻ thù độc tài man rợ thì xác suất cao là phe văn minh rất khó thắng. Phe văn minh dân chủ bị ràng buộc nhiều bởi luật pháp quốc tế, bởi tính nhân đạo trong khi bọn man rợ xem mạng người là cỏ rác, áp dụng sự khủng bố triệt để và sẵn sàng dẫm lên các hiệp ước, hiệp định và công pháp quốc tế. Tất cả là do nhược điểm của chế độ dân chủ tự do! Dân chúng điều gì cũng muốn biết, dù là bí mật hành quân. Báo chí thì luôn để mắt dòm ngó, phanh phui bất cứ điều gì mà họ coi là vi phạm nhân quyền. Các nhà lãnh đạo quân sự coi như bị trói tay!

Trật tự thế giới mới

Thế giới ngày nay đi vào tình trạng mất trật tự hoàn toàn. Có hai khảo hướng: (1) Duy trì vai trò Cảnh Sát Toàn Cầu dựa trên luật pháp, trật tự và thẩm quyền; (2) Để cho các quốc gia trong mỗi vùng đưa ra sáng kiến để cùng hợp tác với nhau. Một nền chính trị cân bằng quyền lực là cần có để dung hoà hai khảo hướng trên.

Chắc chắn sẽ có một sự phối trí phân chia quyền lực mới. Vai trò của Hoa Kỳ, sau quá nhiều thất bại, đang bị xét lại và cạnh tranh bởi các thế lực đang lên.

Vào lúc này đây, bên phía Thái Bình Dương thì Trung Cộng đang gia tăng áp lực. Hoa Kỳ đã hớ hênh tạo ra quá nhiều cơ hội cho Cộng Sản Trung Hoa học hỏi áp dụng khoa học kỹ thuật mà Tây Phương phải bỏ ra hàng chục năm nghiên cứu phát triển. Với tham vọng bành trướng và giành quyền bá chủ từ tay Mỹ, Trung Cộng đang ráo riết thực thi kế hoạch “một vành đai, một con đường”. Họ từng bước lấn sân chơi của Mỹ ở biển Đông, ở Phi Châu, mon men nhảy vào Âu Châu và ngày nay, nới vòi bạch tuộc ra Afghanistan sau khi đã có căn cứ rất lớn ở Pakistan.

Bên Âu Châu thì Nga phục hồi sức mạnh sau khi trì trệ vì sự sụp đổ của chủ nghĩa Cộng Sản. Mười năm qua họ từng lấn lướt Mỹ ở Crimea, Ukraine và nay thì cũng thừa thắng xông lên khi gần 30 nước Liên Âu này phải lệ thuộc ống dẫn khí đốt của Họ. Hai thế lực Nga, Trung Cộng và thêm khối Liên Âu đang đứng vững trên đôi chân mình, chắc sẽ không chịu để Hoa Kỳ độc quyền làm Cảnh Sát Toàn Cầu đâu. Cơ hội vàng đã tới khi uy tín của Hoa Kỳ đã quá sa sút nhất là sau biến cố Afghanistan.

Ngoài ra, thế giới cũng đang nhìn thấy sự trỗi lên của những thế lực bậc trung ở từng điạ phương như Nhật Bản, Ấn Độ, Brazil, Nam Hàn, Turkey, Iran, Canada … Các nước này cũng ý thức quyền lợi của mình mà sẽ đòi chia phần trách nhiệm. Và nguy hiểm nhất là khi một nước Afghanistan Emrirate ra đời sẽ đưa đến sự kết hợp của thế lực Hồi Giáo quá khích gồm Taliban, al-Qaeda, ISIS với số lượng vũ khí tối tân khổng lồ trị giá hàng trăm tỷ đô la do Hoa Kỳ bỏ lại ở các căn cứ quân sự tại Afghanistan mới đây.

Không biết chúng tôi có bi quan không khi thấy xã hội Hoa Kỳ cũng đi vào sa sút, bế tắc bởi các thế lực đen đang ra sức tàn phá. Họ áp lực vào giáo dục theo chiều hướng phi đạo đức, đòi cải tổ an sinh xã hội theo hướng liberal, socialist, dùng chiêu bài BLM để tạo ưu quyền cho một nhóm người bất xứng mà bịt miệng những người công chính; và ngay cả chính quyền cũng góp vào sự tàn phá qua việc mở toang biên giới, và sự vung tay quá mức chi ra những ngân sách khổng lồ cho những chương trình vô lý thay vì đầu tư vào phát triển quốc gia. Nợ quốc gia đã lên đến mức hơn 28.657 ngàn tỷ. Tăng 6 ngàn tỷ trong một năm rưỡi từ khi có đại dịch Covid-19 (các năm trước covid, mức tăng là 1 ngàn tỷ mỗi năm).

Một xã hội với đầy vấn nạn và suy thoái kinh tế thì không thể đảm đương nổi vai trò lãnh đạo quốc tế của mình!

Nếu Hoa Kỳ không có sự thay đổi lãnh tụ có khả năng, có bản lãnh và tầm nhìn chiến lược để xét lại các chính sách can thiệp cho phù hợp thì e rằng quy luật tạo hoá sẽ áp dụng ở đây: Điều gì, cái gì lên cao đến tận mức thì sẽ bắt đầu rơi xuống. Và rơi thê thảm.

Đỗ Văn Phúc

Posted in Bình luận, Diễn đàn | Leave a comment

AI RA LỆNH ÔNG? HẢ ÔNG BIDEN!

September 1, 2021

Đỗ Văn Phúc

 Ngày 7 tháng 10 năm 2001, sau khi nhóm cảm tử al-Qaeda cướp các phi cơ hàng không tấn công vào Tòa Tháp Đôi ở New York, Ngũ Giác Đài ở DC gây ra biến cố 9 tháng 11 làm chết hàng ngàn người, cựu Tổng Thống George Bush thành lập liên quân đồng minh khởi đầu cuộc chiến ở Afghanistan, lật đổ nhà cầm quyền Taliban là người chứa chấp tên khủng bố Osama Bin Laden và nhóm al-Qaeda.394261 14: A fiery blasts rocks the World Trade Center after being hit by two planes September 11, 2001 in New York City. (Photo by Spencer Platt/Getty Images)

Đúng hai mươi năm sau, Toà Đại Sứ Hoa Kỳ ở Kabul cuốn cờ và bắt đầu một cuộc di tản bằng không vận  qui mô bắt đầu từ ngày 16 tháng 8, và chấm dứt vào đêm 30 khi những người lính Mỹ cuối cùng đã bước lên chiếc phi C-17 rời phi trường Kabul chấm dứt sự có mặt sau hai mươi năm chiến tranh không thành công.

Mở đầu bài diễn văn lúc 2:30 (CT) ngày 31 tháng 8 ở Bạch Cung, ông Biden ca ngợi việc di tản hơn 114 ngàn người là một thành công vượt bực (extraordinary success) mà chưa hề có nước nào trên thế giới có khả năng thực hiện. Thời giờ còn lại, ông biện bạch việc Hoa Kỳ phải chấm dứt can thiệp quân sự để khỏi hao tốn xương máu con em và tài nguyên đất nước. Ông khoe rằng ông thực hiện được lời đã hứa khi tranh cử là chấm dứt chiến tranh ở Afghanistan. Có ba lần, ông đổ trách nhiệm lên cựu Tổng Thống Donald Trump về việc ông Trump hứa hẹn rút quân vào tháng 5 năm nay, mà ông Biden còn kéo dài đến cuối tháng 8. Ông còn hân hoan khoe rằng từ nay, sẽ là giai đoạn hoà bình. Chúng ta sẽ không phải dự cuộc chiến nào!

Tóm lại, ông cố nói thật nhiều về những công lao di tản, chấm dứt chiến tranh mà hoàn toàn không đề cập đến việc hỗn loạn khi di tản, việc bỏ rơi hàng trăm công dân Mỹ và hàng ngàn người Afghan từng hợp tác với Mỹ, và nghiêm trọng hơn là việc để lại gần 90 tỷ chiến cụ tối tân vào tay quân khủng bố. Ông cũng không nói tới cuộc rút lui diễn ra trong hỗn loạn vì quân Taliban đã chiếm hết lãnh thổ Afghanistan và cả thủ đô Kabul, chỉ chừa phi trường dân sự cho Hoa Kỳ sử dụng nhưng vòng đai bên ngoài sát phi trường lại do Taliban kiểm soát hoàn toàn. 

Chúng tôi xin lần lượt phân tích từng điểm quan trọng:

1. Chấm dứt chiến tranh

Đúng, ông Biden có thể kể công chấm dứt chiến tranh. Mà thật ra, việc này manh nha từ thời Tổng Thống Trump vì ông Trump có chủ trương không phung phí máu xương, tài sản dân mình để đi xây dựng quốc gia và trợ chiến cho nước khác. Hai mục tiêu này như chúng tôi đã viết trong bài các đây hai tuần, là sự thất bại trong chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ từ sau Đệ Nhị Thế Chiến. Vì thế, ông Trump đã đàm phán với Taliban để rút quân nhường việc nội bộ Afghanistan lại ch người Afghan tự giải quyết với nhau. Ông Biden không thể đổ lỗi cho ông Trump. Ngay trong tuần lễ đầu tiên sau khi nhậm chức, Biden đã ký gần 40 lệnh hành chánh để đảo ngược những việc ông Trump làm; thì nay, ông cũng có thể làm theo ý riêng của ông chứ!

Nhưng việc rút quân của ông Trump rất có bài bản. Ông đặt diều kiện với Taliban để thi hành từng bước và có sự răn đe sẽ dùng biện pháp mà theo ông “tàn khốc như chưa từng xảy ra” nếu Taliban vi phạm. Chúng tôi tin rằng một cuộc rút quân như thế sẽ tuần tự từ việc vận chuyển những chiến cụ hay phá hủy nếu không chuyển được. Kế đó là di tản hết công dân Mỹ và đồng minh, những người bản xứ hợp tác với mình và sau hết là viên chức chính quyền hay dân chúng bản xứ nào muốn ra đi.

Trong khi đó, ông Biden đã không có kế hoạch nào. Ông đã đơn phương ra lệnh di tản mà không thông báo cho các nước đồng minh. Lúc cần thì mời gọi hợp tác, khi hết cần thì phủi tay ra đi không nới một lời! Quân đội các nước này bị một vố khá nặng khi bị đồng minh Mỹ lừa gạt. Quốc Hội Anh hôm 19 tháng 8 đã họp và lên án Biden là đã coi thường họ (contemp). Các nhà ngoại giao cũng bày tỏ thất vọng về Hoa Kỳ và nói rằng họ sẽ không còn tin tưởng và khó mà hợp tác trong tương lai.

Do sự thiếu chuẩn bị, các ông Bộ Trưởng Quốc Phòng Lloyd Austin, Chủ Tịch Ủy Ban Liên Quân Mark Milley, Phát Ngôn Viên Ngũ Giác Đài John Kirby có nhiều lần phát biểu trái ngược nhau trong cùng một vấn đề. Và cũng do sự thiếu chuẩn bị mà đã xảy ra vụ đánh bom làm thiệt mạng 13 quân nhân Hoa Kỳ và gần 150 thường dân Afghan!

Sau này có sự tiết lộ rằng ông Biden đã được cho chọn một trong hai điều: Để cho Taliban kiểm soát thủ đô Kabul hay chính Hoa Kỳ làm việc này trong thời gian di tản. Biden đã dành cho Taliban quyền kiểm soát!

2. Di tản công dân Hoa Kỳ:NTDVN

Trong 112 ngàn người được di tản khỏi Kabul thì hơn 106 ngàn là dân Afghan và các nước khác; chỉ có khoảng 5400 công dân Hoa Kỳ mà theo Biden còn 10% tức là khoảng hơn 500 người còn kẹt lại.

Con số công dân Hoa Kỳ tại Afghanistan đã không được Bộ Ngoại Giao công bố rành mạch, chính xác. Có khi loan báo trên 10 ngàn người và gần cuối thì lại rút xuống 6000. Việc di tản những người này cũng rất luộm thuộm. Khi thì kêu gọi họ tìm cách vào phi trường; khi thì yêu cầu họ cứ ở nguyên vị trí mà chờ hướng dẫn. Khi có người nêu ra sự nguy hiểm khi rời nhà vào phi trường thì chính Biden loan báo là đã thương lượng với Taliban để cho những ai đưa trình thông hành được qua các trạm kiểm soát. Điều nguy hại nhất là Biden đã trao cho Taliban danh sách những người Mỹ và Afgan làm việc cho mình. Người ta coi đó là trao bản án tử hình. Có vài người khi đến được cổng thì bị đẩy lùi ra ngoài và kẹt luôn. Ông Anthony Blinken, Bộ Trưởng Ngoại giao nhiều lần đổ thừa là có nhiều công dân Hoa Kỳ không muốn ra đi!

Rất nhiều lần, chính miệng ông Biden, ông Binken, hứa rằng sẽ di tản hết công dân Mỹ rồi mới chấm dứt chương trình. Việc này lại cũng mâu thuẫn với hạn định 31 tháng 8. Khi ký giả Peter Doocy của Fox News đề cập việc người Mỹ còn kẹt lại, cô Tuỳ viên Báo Chí Bạch Cung là Jen Psaki còn trách rằng nói như thế là vô trách nhiệm (it’s irresponsible to say Americans are stranded; they are not). Cô còn khẳng định “Chúng tôi sẽ không bỏ sót lại những công dân nào nếu họ muốn đi. Chúng tôi sẽ  đem họ về”

Nhưng cuối cùng, còn khoảng 500, 600 công dân còn kẹt lại mà trong số này từng gọi điện thoại kêu cứu từ nơi họ ẩn nấp. Trong khi quân đội các nước đồng minh tổ chức các toán quân ra tận nơi tìm đưa công dân họ vào phi trường thì Hoa Kỳ đã  không làm gì mà còn yêu cầu các đồng minh đừng làm thế vì sẽ bỉ mặt Hoa Kỳ! Chính các viên chức Mỹ còn tìm cách cản trở những người cựu chiến binh biệt kích Mỹ từ Hoa Kỳ tình nguyên đến Kabul để giải cứu công dân mình.

Hoa Kỳ trong lịch sử, có truyền thống không bỏ rơi công dân mình dù trong tình thế nguy nan đến đâu. Truyền thống này bị phản bội khi bà Hillary Clinton, khi đó là Bộ Trưởng Ngoại Giao của Obama đã làm ngơ không giải cứu ông Đại Sứ Christopher Steven và nhân viên Mỹ khị họ bị vây khổn ở Benghazi, dẫn đến cái chết oan ức của 4 người này trong tay bọn khủng bố Libya. Và lần này, sự phản bội này do ông Biden mà ra.

3.- Tài sản chiến cụ khổng lồ.

Trước ngày di tản, Tổng Thống Biden đã ra lệnh đóng cửa và bỏ rơi phi trường quân sự lớn nhất Bagram, là nơi còn chứa một khối lượng khổng lồ những chiến cụ tối tân nhất mà giá trị lên đến gần 90 tỷ đô là (nhiều hơn ngân sách quốc phòng của Pháp và Đức cộng lại). Những vũ khí này đáng kể là 208  phi cơ trong đó có 33 chiếc trực thăng Black Hawk, hơn 22 ngàn xe bọc thép Humvee, 169 thiết vận xa M113, 634 thiết vận xa MI-117, 42 ngàn xe vận tải nhẹ, 8 ngàn xe vận tải nặng, 155 xe bọc lưới thép chống mìn, gần 360 ngàn súng tiểu liên xung kích, 32 ngàn lựu đạn, bom và hoả tiễn, 30 triệu viên đạn các loại, 16 ngàn ống kính nhìn xuyên đêm tối (night vision goggles), 162 ngàn máy và dụng cụ truyền tin vân vân (Sở dĩ chúng tôi kê khai chi tiết để thấy tầm mức nguy hiểm trong tương lai đối với an ninh Hoa Kỳ và thế giới khi các vụ khí tân tiến này lọt vào tay các nhóm khủng bố Hồi cực đoan, hay lọt vào tay Nga, Trung Cộng…)

Rất nhiều lần cô Jen Psaki né tránh câu hỏi rằng từ nay, Hoa Kỳ sẽ an toàn hơn hay nguy hiểm hơn.

Với một nhà nước Hồi Giáo cực đoan ở Afghanistan, tiếp giáp với Pakistan, Iran, vài nước Trung Á cựu Liên Sô cũng là các nước Hồi thù ghét Tây Phương; rồi lại giáp với Trung Cộng ở một góc phía Đông Bắc; cộng với sự tái phát của nhóm al-Qaeda mà có hơn 5000 tên khủng bố vừa ra khỏi nhà tù ở Afghan và đặc biệt nhóm The Islamic State Khorasan, viết tắt là ISIS-K với số quân khoảng 2200 tên (nhóm này có từ nhiều năm trước và là thành viên của ISIS), thì rõ ràng hoà bình an ninh thế giới lại bị đe dọa nghiêm trọng hơn chứ khó có thể ngủ yên như ông Biden hân hoan tuyên bố.

Giờ này, chắc chắn Trung Cộng đang mon men chen vào Afghanistan là nơi có nhiều khoáng sản quý cho công nghiệp điện tử. Trung Cộng cũng nhắm vào kho vũ khí Hoa Kỳ để lại nhằm trang bị cho quân đội hiếu chiến nhiều tham vọng của họ. Nếu xảy ra chiến tranh thì Hoa Kỳ sẽ phải đối đầu với các lực lượng hung hãn, mà không còn ở thế thượng phong vì địch quân được trang bị bằng vũ khí tối tân của chính Hoa Kỳ.

Tóm lại, bài diễn văn của ông Biden không che đậy được những thảm hoạ ông đã gây ra cho Hoa Kỳ là đất nước của chính gia đình ông. Chúng tôi không tin rằng một người lãnh tụ, dù ngây ngô, khờ khạo, vô tài, vô trách nhiệm đến đâu mà có thể có những hành vi như ông; chưa kể những việc làm nguy hại trong 8 tháng qua như mở cửa biên giới cho gần 2 triệu dân nhập cư bất hợp pháp mang theo bao mầm bệnh, tệ nạn buôn bán ma túy, buôn người, băng đảng giết người; và phải kể đến việc chuẩn chi những ngân sách hàng ngàn tỷ đô la cho những chương trình phi sản xuất, làm ngân sách thâm thủng, chắc sẽ đưa đến nạn suy thoái nghiêm trọng.

Một lãnh tụ đúng nghĩa nhận phần trách nhiệm dù việc sai trái là do nhân viên dưới quyền làm ra. TRong khi chỉ có những kẻ hèn mới đổ trách nhiệm cho người khác ngay cả việc sai của chính họ.

Vậy đằng sau ông là ai? Một câu hỏi mà nhiều chính trị gia đã nêu lên trong các chương trình truyền hình là “Ai ra lệnh cho ông, hả ông Biden?” (who instructed you?)

 Đỗ Văn Phúc

Posted in Bình luận, Diễn đàn | 1 Comment

XIN ĐỪNG VÔ TÌNH ĐỂ NHỮNG ANH HÙNG KHÁNG CHIẾN PHỤC QUỐC BỊ LÃNG QUÊN

NHỮNG AI ĐÃ CHẾT VÌ SÔNG NÚI

SẼ SỐNG MUÔN ĐỜI VỚI NÚI SÔNG

Vâng điều chắc chắn là những Anh Hùng Vô Danh cũng như những Anh Hùng Hữu Danh này sẽ sống muôn đời với Núi Sông. Nhưng điều đáng buồn là có những người mà tên tuổi đã dần dần mai một, vì người biết về họ đã không còn nhắc đến họ, và người cùng thời cũng đã quên họ thì làm sao những thế hệ sau sẽ biết đến họ, để rồi cuối cùng thì chính lịch sử cũng sẽ không còn biết họ là ai.

Chúng ta sở dĩ biết đến Anh Hùng Trần Văn Bá vì nhiều người nhắc đến anh, hàng năm còn có những buổi lể để tưởng niệm anh. Nhưng không phải chúng ta chỉ có mỗi Anh Hùng Trần Văn Bá mà chúng ta còn có  hàng ngàn những anh hùng như Trần Văn Bá, trong đó có các lãnh đạo tôn giáo, các trí thức, các sinh viên học sinh, các quân nhân không chịu buông súng tiếp tục chiến đấu trong các tổ chức Kháng Chiến, Phục Quốc sau ngày 30/4/1975, đa số đã hy sinh hay bị việt cộng tử hình, số còn lại thì bị giam giữ nhiều năm trong các trại lao tù khổ sai nơi rừng thiêng nước độc. Ngày hôm nay những Anh Hùng này đang dần dần bị lãng quên, và nếu chúng ta những người cùng thời, những người biết về họ mà chúng ta không nói lên thì  không những chúng ta là người vô trách nhiệm, mà chúng ta còn là kẻ vô ơn đối với những người đã hy sinh mạng sống của họ để cho chúng ta được sống.

 Tại sao bọn việt cộng chúng còn dám tưởng tượng để dựng lên một thằng nhóc Lê Văn Tám đốt kho xăng, môt con dân công bị trúng hàng trăm viên đạn mà vẫn còn hăng say tải đạn, hay một tên Tô Vĩnh Diện người thì như que củi mà dùng thân mình để chặn pháo có khác nào con chàng hiu ôm quả đu đủ, và còn nhiều nhân vật tưởng tượng nữa. Mục đích của chúng là lừa bịp, để kích động tinh thần của đám việt cộng ngu ngốc sẵn sàng chết cho tham vọng xây dựng chế độ công sản hoang tưởng của chúng.

Thế thì tại sao chúng ta có hàng ngàn anh hùng bằng xương bằng thịt, họ đã cống hiến đời mình cho lý tưởng tự do mà chúng ta lại nhẫn tâm để tên tuổi họ chìm vào quên lãng.Trong tâm tình này tôi khẩn thiết yêu cầu mọi người chúng ta hãy mạnh dạn nói lên những điều mình biết về sự hy sinh của một người nào đó, để hy sinh của họ không bị lãng quên, và lịch sử cũng dành cho họ một vị trí xứng đáng.

Hai người mà tôi đề cập đến đó là Luật Sư-Giáo Sư Trần Thanh Đình người sáng lập Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng Việt Nam, và người thứ hai là Hạ sĩ Biệt Động Quân Nguyễn Việt Hưng người lãnh đạo cuộc nổi dậy tại Nhà Thờ Vinh Sơn.

  1. LUẬT SƯ GIÁO SƯ TRẦN THANH ĐÌNH, NGƯỜI SÁNG LẬP MẶT TRẬN QUỐC GIA GIẢI PHÓNG VIỆT NAM.

Có thể tên ông xa lạ với nhiều người, nhưng với những người từng tham gia các tổ chức Phục Quốc, cũng như những người bị việt cộng bắt giam vì tham gia các tổ chức kháng chiến sau NGÀY 30/4/1975 thì tên ông không xa lạ gì, và đặc biệt là khi ông bị việt cộng xử bắn vào tháng 11 năm 1979.

Người viết bài này có hân hạnh được biết ông khi người viết còn là một cậu bé hàng xóm 19 tuổi. Ngày đó tôi là một cậu bé từ tỉnh lẻ Biên Hoà lên Sài Gòn trọ học, nơi tôi ở trọ nằm trong  hẻm chuồng bò thuộc Giáo Xứ Tân Chí Linh khu Ông Tạ, đây là nhà của người cô ruột đã dọn về Biên Hoà, mà căn nhà chính thì cho người khác thuê, còn tôi thì ở cái gác xép được cất thêm ở đằng sau. Bên cạnh là nhà của gia đình Luật Sư Trần Thanh Đình, căn nhà này gia đình ông cũng thuê lại của người nào đó. Hầu hết dân sống trong Hẻm Chuồng Bò đều là dân lao động hoặc buôn thúng bán bưng, nên sự xuất hiện của gia đình ông cũng tạo nên sự tò mò của một vài người trong đó có thằng Chiểu bạn cùng trọ học và tôi. Hàng ngày thấy chừng 5 hay 6 cô con gái xinh đẹp của ông trong áo dài nội hoá thướt tha dịu dàng cắp sách đến trường khiến mấy đứa choai choai mới lớn như chúng tôi cũng cảm thấy vui vui.

Trong suốt gần 3 năm chưa bao giờ nghe trong nhà có điều gì to tiếng, dường như không khí hạnh phúc luôn bao trùm quanh căn nhà. Còn ông lúc nào cũng luôn ăn mặc tươm tất chỉnh tề, áo chemise trắng bỏ trong chiếc quần tây mầu xậm, đi giầy hoặc đi sandal da, họa hoằn lắm mới thấy ông trong bộ pyjama đứng trong sân nhà. Mỗi lần thấy ông tôi chỉ nhìn ông rồi gật đầu chào chứ không dám nhìn lâu, giống như cậu học trò không thuộc bài không dám nhìn vào thẳng ông thầy, chẳng phải vì mặc cảm mà chỉ vì ông có đôi mắt thật sáng nằm trên một gương mặt thật cương nghị, với vóc dáng cao lớn mảnh khảnh, ông không có nét của một nhà giáo mà có cái nét của một người lăn lộn trên trường đời, hay nói đúng hơn là của một người lãnh đạo chính trị, lãnh đạo đấu tranh.

Một đôi lần ông gợi chuyện hỏi thăm tôi về chuyện học hành và chỉ có thế thôi. Nhưng có một lần tôi còn nhớ và đó cũng là lần sau cùng tôi đứng hầu chuyện với ông khoảng chừng trên 20 phút. Vào khoảng cuối tháng 5/1968 lúc đó tổng công kích đợt 2 vừa nổ ra, ông và tôi đang đứng nhìn về hướng Hóc Môn nơi đang có những cuộc giao tranh, máy bay skyraider vòng qua vòng lại thả bom, nhiều cột khói đen bốc lên trên nền trời, ông hỏi tôi là liệu tình hình rồi có yên ổn không, tôi chỉ biết trả lời ông theo cái suy nghĩ hạn hẹp của một thằng bé 19 tuổi, tôi có thói quen của người Miền Nam là khi đối thoại với người đáng tuổi cha mẹ thường hay xưng con nên tôi trả lời.

  • Theo con nghĩ thì thế nào cũng yên thôi bác, giống như hôm Tết việt cộng họ tràn vào tấn công ở dưới Biên Hoà nơi bố mẹ con ở, mới đầu họ chiếm nhiều khu phố đối diện với Quân Đoàn, nhưng cuối cùng họ cũng bị tiêu diệt, lần này theo con thì cũng vậy thôi bác ạ.
  • Người dân mình thật đáng thương, người Bắc mình đã phải chạy trốn chúng nó mà chúng nó vẫn không tha, rồi đây lại thêm nhiều người tan cửa nát nhà. Nói đoạn ông chép miệng thở dài.

Tôi buột miệng nói với ông

  • Thằng Chiểu bạn con, nó hay ngồi đây chơi đàn chắc bác cũng có thấy, nó chết rồi bác ạ ! nó bị động viên đi học Hạ Sĩ Quan vừa mới ra trường thì tử trận đợt Tết vừa rồi tại Huế. Còn con thì đã tình nguyện nhập ngũ, thứ hai tới đây con cũng vào lính rồi, tình hình này con chẳng an tâm ngồi học được nữa bác ạ, nhân tiên đây con cũng chào bác để thứ hai con đi.

Ông chỉ nói một câu

  • Quốc Gia hưng vong , thất phu hữu trách. Mỗi người ai cũng phải làm một cái gì chứ không thể ngồi yên. Cả đời tôi cũng đã trăn trở, lăn lộn ngược xuôi về Quê Hương Đất Nước, mà rồi cũng chẳng làm được cái gì, lực bất tòng tâm. Thôi tôi chúc cậu đi được bình an, hãy luôn tin vào sự quan phòng của Chúa.

Đó là lần sau cùng tôi gặp và tiếp chuyện với ông. Đến năm 1970 thì tôi được biết gia đình ông đã rời sang Khu Hẻm Khuông Việt. Mấy chị lớn đã tốt nghiệp đại học, còn mấy cô cậu bé có người cũng vừa đậu tú tài 1, tú tài 2. Gia đình ông quả là một gia đình nề nếp, lễ giáo gia phong và hầu như các con ông đều thành đạt trên đường học vấn.

 Câu chuyện tôi tình cờ  biết về gia đình một người hàng xóm tưởng chừng như chắm dứt ở đây. Nhưng rồi cũng lại tình cờ tôi lại được tin ông, đúng hơn là một hung tin.

Mùa đông năm 1979, lúc đó tôi đang ở tù tại Trại K1 Tân Lập Vĩnh Phú, tối hôm đó sau khi điểm danh vào phòng thì như thường lệ chúng mở loa bắt mọi người phải nghe đài phát thanh Hà Nội, thông thường thì anh em chúng tôi tán gẫu với nhau, hoặc hát nhạc vàng”tiếng hát át tiếng loa”chứ chẳng ai thèm nghe cái đài việt cộng,  người dân Hà Nội đã chẳng nói với nhau rằng”chỉ có mỗi tiếng tít tít trên đài báo hiệu giờ là đúng thôi, còn ngoài ra toàn là tin láo”.

Nhưng tối hôm đó không biết vì sao mà nó oang oang đến nhức tai. Chúng loan tin là ngày hôm nay trong Sài Gòn chúng đã xử tử Luật Sư Trần Thanh Đình Chủ Tịch Măt Trận Quốc Gia Giải Phóng Việt Nam, ngoài ra chúng cũng đã bắt Linh mục Nguyễn Văn Vàng người kế tiếp thay ông làm chủ tịch, và người em là Trung Tá Nguyễn Văn Viên. Nghe đến đây tôi bàng hoàng nhớ về ông hàng xóm năm nào. Tôi thầm cầu người đó không phải là ông, còn nếu là ông thì hy vọng gia đình phải biết tin vì chúng nó đã công khai nói ở trên đài, chứ đừng bị như nhiều anh em tù ở đây chết mà chúng không cho gia đình biết một tin gì. Tôi hẹn với lòng là nếu còn có ngày về thì thế nào cũng sẽ tìm đến để chia buồn với gia đình, đọc cho ông một kinh và thắp cho ông một nén nhang dù chỉ là một nén nhang muộn.

Sau năm 1983 tôi được thả về. Tôi đã tìm đến Khu Khuông Việt đôi lần nhưng hỏi thăm vài người thì họ nói không biết, cũng có thể họ biết nhưng không dám nói vì sợ liên lụy, nhất là tôi lại hỏi thăm về một người đã bị bọn chúng tử hình. Sau đó thì cuối năm 1991 tôi được đi tái định cư tại Hoa Kỳ theo chương trình HO.

Đến khoảng năm 2006 tình cờ tôi lại được nghe cụ Hoàng Nguyên nhắc đến ông trong một chương trình cụ nói về Cụ Lý Đông A trên Đài Phát Thanh Sống Trên Đất Mỹ, cụ cho biết Luật Sư Trần Thanh Đình là người học trò duy nhất của cụ Lý Đông A, người đã hoạt động cùng cụ Lý Đông A trong Đại Việt Duy Dân Đảng trong suốt thời gian chống Pháp và chống Việt Minh từ năm 1943 đến 1946. Sau 30/4/1975 , vào tháng 2/1976 ông thành lập và lãnh đạo tổ chức Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng Việt Nam, hoạt động đến cuối 1976 thì ông bị việt cộng bắt và tử hình vào tháng 11/1979. Tôi có gọi cụ hỏi thêm vài chi tiết, nhưng cụ cũng chẳng biết thêm gì hơn.

Rồi như một định mệnh đã được sắp đặt trước, thật tình cờ và cũng thật ngẫu nhiên. Số là cách đây vài năm trong một đám tang vợ của một người bạn vong niên. Sau đám tang tình cờ tôi nói chuyện với một người bạn mà tôi quen biết cũng đã gần chục năm, chúng tôi thường xuyên liên lạc nói chuyện với nhau hầu như hàng ngày, nhưng chưa bao giờ tôi nói với ông về câu chuyện này. Sau khi nghe xong người bạn tôi bèn cho biết ông có quen biết với gia đình của Luật Sư Trần Thanh Đình và hiện gia đình tất cả đang định cư tại Hoa Kỳ. Nghe đến đây tôi thầm cảm tạ ơn Trời, chí ít ra Trời cũng dành cho ông một điều an ủi là những ngươi thân thương ruột thịt của ông đã thoát được khỏi tay bọn cộng sản vô thần.

Đúng như lời ông viết”Cậu thương mợ và các con lắm, nhưng rồi ta lại được gặp nhau sau này”. Hẳn ông cũng đã mỉm cuời an nghỉ trong vòng tay quan phòng của Thiên Chúa.

Kính mong những ai biết về ông, những ai có thời gian ở tù chung với ông, xin hãy viết ra. Kính xin các nhà sử học, các nhà biên khảo hãy sưu tầm các tài liệu để đưa vào lịch sử, ngõ hầu sự hy sinh của ông và các chiến hữu trong Mặt Trận Quốc Gia Giải Phóng Việt Nam không bị lãng quên.

Muốn biết thêm về tổ chức MẶT TRẬN QUỐC GIA GIẢI PHÓNG VIỆT NAM xin vui lòng vào link bên dưới

Nguồn: http://pham-v-thanh.blogspot.com/2012/04/toan-canh-mat-tran-quoc-gia-giai-phong.html

Biệt Động Quân Đoàn Trọng Hiếu. Tháng 8/2021

  • HẠ SĨ BIỆT ĐỘNG QUÂN NGUYỄN VIỆT HƯNG VỚI VỤ NHÀ THỜ VINH SƠN

Vụ biến động tại Nhà Thờ Vinh Sơn có rất ít dữ liệu, tuy nhiên trong đó có nơi thì nói đến có một sĩ quan Biệt Động Quân, có nơi thì nói có một Hạ Sĩ Quan Biệt Động Quân tên Nguyễn Việt Hưng tham gia. Riêng tôi thì cái tên Nguyễn Việt Hưng không lấy gì làm xa lạ, vì đã có một người Binh Nhất rất là đặc biệt ở trong trung đội của tôi.

Khoảng tháng 8/1969 khi tôi đang là trung đội trưởng trung đội 2 thuộc Đại Đội 3 Tiểu Đoàn 52 Biệt Động Quân. Lúc đó trung đội đang nằm ở Cửa Đông Môn trên sông Đồng Nai nhằm ngăn chặn bọn đặc công thuỷ của việt cộng xâm nhập từ Hang Nai, Phước Thiền thuộc Quận Long Thành Biên Hoà vào Sài Gòn, hoặc tấn công vào Kho đạn Thành Tuy Hạ.

Vào môt buổi chiều có một binh sĩ cấp bậc Binh Nhất mới được đưa về trung đội theo chuyến canô tiếp tế đến. Binh nhất này tên Nguyễn Việt Hưng, nhìn có vẻ quen quen nên sau khi anh trình diện xong tôi bèn hỏi

  • Tôi thấy anh có vẻ quen quen, không biết đã gặp anh ở đâu? Dường như ở khu Ông Tạ, hay tại cà phê Thăng Long không biết có phải không?
  • Tôi cũng quanh quẩn ở khu đó thiếu úy, nhưng có thể là người giống người thôi. Anh trả lời.
  • Thì cũng có thể, nhưng nhìn gương mặt anh tôi thấy có cái gì không giống mấy anh em khác. Tôi nghe Đ/u Thương đại đội trưởng cho biết anh là môt “Lao Công Đào Binh” vừa mới phục hồi đúng không? Tôi hỏi tiếp.
  • Dạ đúng thiếu uý, tôi làm “Lao Công Đào Binh”cho Liên Đoàn 3 Biệt Động Quân 6 tháng thì được phục hồi và phân bổ về đây.
  • Anh có thể cho tôi biết trước anh ở đơn vị nào và tại sao lại bị đi “ Lao Công Đào Binh“ không?
  • Dạ trước tôi ở Sư Đoàn 5 Bộ Binh. Câu chuyện dài dòng lắm, thiếu uý cho phép khi khác tôi sẽ trình thiếu uý rõ sau.
  • Ừ thôi vậy cũng được, anh xuống tiểu đội khinh binh của Trung sĩ Bình ở góc đằng kia. Nói đoạn tôi cho người hiệu thính viên xuống gọi Tr/s Bình lên nhận anh về dưới tiểu đội.

Ít ngày sau thì trung đội tôi bị việt cộng lén vào giật mìn, lúc đó khoảng 11 giờ đêm khiến Hạ sĩ Long hy sinh, B1 Đời và B1 Bảy xạ thủ đại liên bị thương nặng. Sau khi băng bó cầm máu cho hai người bị thương tôi xin trực thăng tải thương. Vì quân số thời gian này một trung đội chỉ khoảng 17 người nên sau khi một chết hai bị thương thì quân số còn lại của trung đội quá eo hẹp, khoảng gần chục  người đã phải bung rộng ra làm an ninh bãi đáp, số còn lại chỉ vừa đủ khiêng hai cái cáng cho hai người bị thương, nên tôi giao cho Hưng cõng người tử trận.

Khu vực bãi đáp vì thuỷ triều lên nên nước ngập đến bụng, khi trực thăng đáp lơ lửng trên mặt nước là chúng tôi vội chuyển người lên. Khoảng 15 phút sau thì Chuẩn úy Khuê gọi cho tôi báo là chỉ nhận có hai người bị thương, vì trực thăng Mỹ họ không chở người chết, nên có thể họ đẩy xuống rồi. Nghe xong tôi vội lệnh cho toàn trung đội ra khu bãi đáp để mò xem có xác của Hạ Sĩ Long không, cả trung đội quần qua quần lại hơn 20 phút cũng không thấy gì, tôi hỏi Hưng là anh có chắc đã bỏ lên trực thăng không mà sao Chuẩn Uý Khuê nói không thấy, Hưng trả lời chắc nịch

  • Tôi cõng nó trên lưng, khi ra đến trực thăng thì thằng Mỹ ngồi ở bên hông còn phụ kéo thằng Long lên mà thiếu úy.

Ngay sau đó thì Chuẩn Uý Khuê gọi

  • Báo cho Minh Hiếu biết đã thấy thằng em đi phép dài hạn rồi, thằng Mỹ nó đặt vào ghế xạ thủ cây đại liên rồi kéo cửa lại, giờ xuống đến Cộng Hoà mới biết.

Báo hại cả trung đội ngâm dưới nước cả gần tiếng đồng hồ lạnh run cầm cập. Sáng hôm sau tôi gọi Trung Sĩ Bình và Hưng lên, tôi cho Hưng biết là anh bây giờ thay HS Long làm tổ trưởng một tổ khinh binh. Phải nói Hưng là người có trách nhiệm cao, việc phát quang, gài mìn hay bất cứ nhiệm vụ gì giao thì tổ khinh binh đều sẵn sàng nhận đảm trách và hoàn thành.

Rồi một hôm tôi nhận được lệnh cho Hưng về trình diện BCH Tiểu Đoàn, tôi không biết lý do gì. Khoảng một tháng sau khi đại đội hoán chuyển vị trí cho đại đội khác và về nằm tại Sân Bắn Bình Trưng Giòng Ông Tố thì Hưng ghé thăm tôi. Tôi rất ngạc nhiên vì trông Hưng giống như một công chức cao cấp, anh mặc đồ vest, đi xe mang bảng số NG, anh chỉ nói trên đường đi công tác ở Thủ Đức, ghé qua BCH Tiểu Đoàn hỏi thiếu uý ở đâu để ghé thăm thôi. Tưởng chừng như cuộc đời của Binh Nhất Nguyễn Việt Hưng đã qua một ngã rẽ khác. Nhưng không, gần 3 tháng sau Hưng lại khăn gói balô trở về đơn vị, tôi có hỏi nhưng Hưng rất kín miệng, anh chỉ nói:” thì mình được biệt phái công tác, xong nhiêm vụ thì lại trở về nhiệm sở cũ thôi thiếu uý”.

Qua vài lần nói chuyện,tôi biết Hưng đã tốt nghiệp đại học, nhưng vì có dính líu đến chính trị nên anh đã bị đưa làm Binh Nhì ở Sư Đoàn 5 Bộ Binh và không cho phép lai vãng về Sài Gòn. Tại Sư Đoàn 5 có vài người biết anh nên xin cho anh về làm ở Phòng Tâm Lý Chiến Sư Đoàn. Một lần nhớ Sài Gòn quá anh dù về thì bị An Ninh Quân Đội bắt và kết tội đào ngũ đưa đi “Lao Công Đào Binh” như đã nói ở trên. Có lần tôi nói Hưng nôp đơn đi khoá sĩ quan, anh chỉ cưới và nói” tôi đâu có khả năng để học sĩ quan, khi nào có khóa hạ sĩ quan thiếu uý cho tôi đi”

Thỉnh thoảng cứ vào chiều chủ nhật Hưng thường xin tôi cho anh đưa vợ xuống Biên Hoà, vì vợ anh dạy học ở Trường Ngô Quyền và ở lại đạy cho đến thứ bảy mới về, sau này tôi biết vợ anh là giáo sư dạy Anh văn lớp đệ nhất của cô em tôi.

Khoảng tháng 3/1970 thì Hưng lên Hạ Sĩ, còn tôi thì đi học Rừng Núi Sình Lầy tại Dục Mỹ đến cuối tháng 5/1970 mới trở về, tôi chỉ nghe nói lại là Hưng bị thương nhẹ khi đánh qua Mật Khu Ba Thu, rồi từ đó không thấy Hưng trở về đơn vị nữa.

Sau khi định cư tại Mỹ, tôi đọc một vài bài viết nói về vụ Nhà Thờ Vinh Sơn, trong đó có nói một sĩ quan ( Hạ Sĩ Quan) Biệt Động Quân tên Nguyễn Việt Hưng  bị việt cộng xử tử cùng với Linh Mục Nguyễn Hữu Nghị và anh Nguyễn Xuân Hùng. Tôi nghĩ đây chính là Nguyễn Việt Hưng, người Hạ Sĩ Biệt Động Quân của Đại Đội 3 Tiểu Đoàn 52 Biệt Động Quân, một người lính BĐQ vô cùng đặc biệt mà tôi đã có vinh dự là người trung đội trưởng của anh.

Xin Thành Kính Tri Ân những anh hùng Vị Quốc Vong Thân. Cầu xin cho sự hy sinh của các anh không bị rơi vào quên lãng.

Có thể tìm hiểu thêm tại link

Nguồn: http://pham-v-thanh.blogspot.com/2012/04/toan-canh-mat-tran-quoc-gia-giai-phong.html

Biệt Động Quân Đoàn Trọng Hiếu

Tháng 8/2021

Posted in Diễn đàn, Tài liệu | Leave a comment

Thiên đường không có bóng dáng Nhân Dân

Thiên đường không có bóng dáng Nhân Dân

Fb Phạm Minh Vũ 
Tôi từng nghe, người ta khoác trên mình bộ complet, đứng trên bục đầy hoa giữa hội trường đầy khẩu hiệu do dân vì dân thường huênh hoang rằng: Việt Nam là một quốc gia hạnh phúc và đáng sống nhất. Tôi cũng từng nghe, Nhân dân tuy nghèo nhưng chẳng ai bị bỏ lại đằng sau.

Có thể là hình ảnh về 2 người, mọi người đang đứng, mọi người đang đi bộ, giày dép và đường phố

Nhưng tôi chưa thấy, một quốc gia nào trên thế giới xưng danh không ai bị bỏ lại đằng sau, mà chính phủ ấy lại để Nhân dân phải xếp hàng 3h đồng hồ mệt nhoài, giữa trưa nắng hè rực lửa chỉ để chờ xin 3kg gạo, và vừa quay đi không may bị đứt, họ phải nhặt từng hạt gạo như thế. Mà gạo đó đều do Nhân dân tự giúp nhau. Không hề có bóng dáng của nhà nước.
Tôi chưa thấy quốc gia nào tự cho mình hạnh phúc, đáng sống mà Dân bị chính phủ bỏ rơi trong cơn đại dịch, đi rút tiền ATM lại bị phạt, quốc gia nào đáng sống mà Dân chỉ hé cửa cũng bị sai nha tới phạt buộc Dân phải khấn lạy những kẻ mang danh công quyền?
Quốc gia đáng sống nào tự cho mình cái quyền xộc vào nhà bắt tấn công cồn cay thẳng vào mặt Dân, rồi lôi xềnh xệch ra xe như thế?
Quốc gia đáng sống ở đâu khi mỗi năm hàng chục ngàn người Dân tháo chạy khỏi đất nước đi làm culi khắp xứ người? Rồi phải bỏ chính mạng sống của mình để đổi lấy cuộc sống tự do trong thùng xe đông lạnh?
Hạnh phúc có hay không khi Nhân dân phải xén từng hộp sữa của trẻ con, cắt từng bát gạo để đóng thuế cho chính phủ lạm thu một ngày tàn bạo hơn. Sự uất ức căm phẫn dường như thành chai lì trước những bất công không tưởng.
Trong khi Nhân dân kêu gào vì đói, thì chính phủ ban ra những quyết sách không lấy Dân để phục vụ. Mà chỉ tạo điều kiện – hay cấp quyền hành – cho những kẻ thi hành công vụ trấn lột dân bằng các chỉ tiêu ác nghiệt. Chính sách ban ra, những kẻ nghiên cứu họ xét tới từng câu từng chấm phẩy hầu sao khi thi hành chỉ phục vụ duy nhất cho nhóm lợi ích. Còn Nhân dân sống chết ra sao mặc xác Dân.
Không những không giúp, mà trong giữa khốn cùng ấy chính những kẻ nhân danh lãnh đạo họ xà xẻo thêm khi điện nước, xăng ga đồng loạt tăng – Đúng nghĩa nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn.
Không chỉ trấn lột dân, họ còn thi hành chính sách ngăn sông cấm chợ, trao cho những kẻ mặc áo xanh vàng ngang nhiên chặn xe cướp của Dân từ 1 triệu tới 3 triệu với lý do chống dịch, mà không biết dân đói khổ nhường nào, không biết Dân đang trong tư thế lao xuống vực thẳm vì dịch – đúng nghĩa vùi con đỏ xuống hầm tai vạ.
Và ngay thủ đô, những kẻ nắm đủ quyền bính, ban hành chính sách ấy trong phòng họp họ tụng ca với nhau rằng đất nước ta là một quốc gia quang vinh vĩ đại. Họ còn nâng ly mà tự đắc rằng: Mây đen phủ kín toàn cầu nhưng mặt trời tỏa sáng trên đầu Việt Nam.
Họ vẫn nhất mực kiên định tiến lên CNXH, vẫn ca ngợi Trung Quốc đẹp tươi vẫn ngày đêm chửi tư bản không ngừng. Nhưng, sau cùng, họ đều thủ hết vài ba cái hộ chiếu ở Síp, ở Đức ở Pháp trong cặp táp, mỉa mai thay, nó được kẹp trong những cuốn lý luận cách mạng dày cộm, với tá chữ khô khan. Và, con cái họ đều đã định cư ở tư bản cả rồi.
Phải chăng, đó mới là thiên đường – Thiên đường – không có bóng dáng Nhân Dân!

Posted in Tản mạn | Leave a comment

Tân Ban Chấp Hành CĐ Người Việt Quốc Gia tại thành phố Charlotte cho nhiệm kỳ 2021-2023

Kính thưa quý đồng hương, 

Trong thời gian tám tháng qua, Ban Bầu Cử và Ban Chấp Hành Cộng Đồng Người Việt Quốc Gia tại Charlotte đã không ngừng làm việc để chọn một tân Chủ Tịch cho nhiệm kỳ 2021-2023. Chúng tôi không có sự đáp ứng về chức vụ Chủ Tịch CĐ tuy nhiên chúng ta đã có những tiềm năng trẻ sẳn lòng phục vụ trong vai trò Phó Chủ Tịch CĐ.  

Như đã ấn định trong ngày chào cờ đầu năm, tháng 8 là kỳ hạn để giới thiệu tân Ban Chấp Hành Cộng Đồng Charlotte. Hôm nay chúng tôi xin kính giới thiệu đến quý vị những thành phần nhân sự uy tín và nhiệt thành trong cộng đồng của chúng ta cho nhiệm kỳ 2021-2023.  

Kính mong quý vị tiếp tục nâng đỡ các tiềm năng trẻ để vào năm 2023 các em có thể dấn thân đảm nhiệm chức vụ mới.  

Posted in Thông Báo, Tin Cộng Đồng | 2 Comments

CĐNVQG Hạt Tarrant-Thư Mời Tham Dự Đại Hội Thường Niên 2021

Posted in Thông Báo, Tin Cộng Đồng, Uncategorized | Leave a comment

Thư ông Đỗ Văn Phúc gởi Dân Biểu Janet Nguyen

July 23, 2021

Michael Do

16204 Viki Lynn Pl.

Pflugerville, TX 78660

512-437-1193

md46usa@gmail.com, www.michaelpdo.com

To:

Congresswoman Janet Nguyen,

California House of Representatives

12866 Main Street, Ste 202

Garden Grove, CA 92840

Dear Ms. Nguyen,

I happened to know that you had submitted a request to the California Senate Armed Forces and Veterans Committee to allow South Vietnamese soldiers to be buried in the US National Cemetery.

I appreciate your kindness toward our comrades-in-arm. I understand that you want to do something good to repay the sacrifice they made in the war. I myself, a soldier who served 10 year in the Republic of Vietnam Armed Forces.

You might not have thought seriously about the influence of your work. It will hurt more than help.

Firstly, it hurts our feeling, our self-respect since we were Vietnamese soldiers who fought for our country Vietnam and our people. During the war and even until now, Viet Cong, our enemies always misled the Vietnamese people and international community that the ARVN was created, trained and paid by the US to serve the American aggression. Please, don’t help the enemies to confirm their propaganda.

Whatsoever, we cannot rest in the American National Cemetery simply because we were not American soldiers!

Secondly, in a Vietnamese version of your office press release dated July 22, 2021, you said: “Those brave soldiers always fought alongside the US Army…” (Những Quân Nhân anh dũng này đã luôn sát cánh chiến đấu bên cạnh quân đội Hoa Kỳ…) That is not true. We, Vietnamese soldiers, were the main element in the war defending our country against communism. The American troops came to assist upon our government request. They fought alongside us rather than we did alongside them.  

And finally, your request is ridiculous (sorry for saying this frankly). It has very low or may be no possibility to be considered in the US Congress. What will we feel if the request is rejected? What will the Americans think as they know about this?

For the above reasons, I sincerely urge you to stop this senseless thing but focus on the good works to help your fellow Vietnamese American in their daily needs. Then, you will have my strong support.

Thank you for your time.

Yours, sincerely

Dân Biểu Janet Nguyễn Yêu Cầu Ủy Ban Quân Vụ và Cựu Quân Nhân Thượng Viện Tiểu Bang Cho Phép các Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà Được Hưởng Những Quyền Lợi An Táng Tại Nghĩa Trang Quốc Gia Hoa Kỳ

SACRAMENTO, CA – Ủy Ban Quân Sự và Cựu Quân Nhân của Thượng Viện Tiểu Bang gần đây đã yêu cầu để chung Nghị Quyết AJR 13 (Assembly Joint Resolution) của Dân Biểu Janet Nguyễn với Nghị Quyết AJR 10, để được thông qua vào tuần này. Nghị quyết AJR 13 cuả Dân Biểu Janet Nguyễn kêu gọi Quốc Hội Liên Bang và Tổng Thống Hoa Kỳ cho phép những Cựu Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa được hưởng những quyền lợi chôn cất và tưởng niệm tại Nghĩa Trang Quốc Gia Hoa Kỳ.          
AJR 10 là những nỗ lực thành công của Dân Biểu Janet Nguyễn và Dân Biểu Steven Choi liên quan đến những Cựu Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa và Cựu Quân Nhân Nam Hàn. Các chiến sĩ của cả hai Quân Lực đã chiến đấu cùng với các chiến sĩ của Quân Lực Hoa Kỳ trong chiến tranh Việt Nam vì tự do và dân chủ. AJR 10 hiện kêu gọi Quốc Hội Liên Bang trao cho những người lính dũng cảm này các quyền lợi chôn cất và tưởng niệm tại nghĩa trang quốc gia Hoa Kỳ, cùng với các đồng đội của họ trong Quân Lực Hoa Kỳ. Theo luật hiện tại, một công dân Hoa Kỳ, trong bất kỳ cuộc chiến nào mà Hoa Kỳ đã hoặc có thể tham gia, đã phục vụ trong Quân Lực của bất kỳ chính phủ nào liên minh với Hoa Kỳ trong cuộc chiến đó, những người đã chấm dứt phục vụ tại ngũ được vinh danh vì tử trận hoặc qua đời, và là công dân Hoa Kỳ tại thời điểm nhập ngũ và tại thời điểm qua đời, đều đủ điều kiện để chôn cất tại nghĩa trang quốc gia. AJR 10 sẽ kêu gọi Quốc Hội Liên Bang trao cho các Cựu Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa và Cựu Quân Nhân Nam Hàn những quyền lợi về mai táng và tưởng niệm tại nghĩa trang quốc gia. Đây là những vị đã phục vụ trong chiến tranh Việt Nam nhưng chưa là công dân Hoa Kỳ trong thời gian phục vụ hay sau đó. Dân Biểu Janet Nguyễn phát biểu: “Những Quân Nhân anh dũng này đã luôn sát cánh chiến đấu bên cạnh quân đội Hoa Kỳ và đã trở thành công dân Hoa Kỳ, xứng đáng được hưởng các quyền lợi an táng và tưởng niệm thích hợp trong nghĩa trang quốc gia hoặc trong các nghĩa trang của Cựu Quân Nhân của Tiểu Bang. Tôi và gia đình sẽ không có ngày hôm nay nếu không có sự hy sinh của những vị anh hùng này trong cuộc chiến. Họ xứng đáng nhận được sự vinh danh và tôn trọng của chúng ta”.  Chiến tranh Việt Nam kết thúc vào năm 1975 và mang theo sự mất mát của hàng trăm ngàn chiến sĩ của Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà và Quân Lực Hoa Kỳ, những người đã sát cánh chiến đấu vì tự do và dân chủ. Sau chiến tranh Việt Nam, nhiều chiến sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà và gia đình của họ đã buộc phải vượt biển để thoát khỏi sự cai trị độc tài và đàn áp của chế độ cộng sản. Cha và Chú quá cố của Dân Biểu Janet Nguyễn đều phục vụ trong Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà. Chú của Dân Biểu Janet Nguyễn, là một sĩ quan, đã bị hành quyết trong những ngày cuối cùng khi Sài Gòn thất thủ. Dân Biểu Janet Nguyễn và gia đình đã phải vượt biển đến Hoa Kỳ để tìm tự do và dân chủ.    Tại Hoa Kỳ, những người lính Cựu Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa vẫn tiếp tục đấu tranh cho dân chủ, tự do tôn giáo, và nhân quyền tại Việt Nam. Họ đã đóng góp về mặt văn hóa và kinh tế cho đất nước Hoa Kỳ và cho sự đa dạng của dân tộc chúng ta. Những cựu quân nhân này đã sát cánh chiến đấu cùng những người lính Hoa Kỳ để chống lại kẻ thù chung và liều mình cứu sống nhiều chiến sĩ Hoa Kỳ. Dân Biểu Janet Nguyễn phát biểu: “Tôi rất vui mừng với những công việc mà chúng tôi đã và đang làm để giúp những cựu quân nhân này. Tôi rất vinh dự khi được cùng đồng nghiệp của tôi, Dân Biểu Steven Choi, cùng nhau tìm ra giải pháp để vinh danh những Cựu Quân Nhân Việt Nam Cộng Hòa và Cựu Quân Nhân Nam Hàn”. Dự luật đã được thông qua bởi Ủy Ban Quân Vụ và Cựu Quân Nhân Thượng Viện Tiểu Bang. Hiện tại, dự luật đang được đệ trình lên Thượng Viện Tiểu Bang để bỏ phiếu. Sau khi thông qua Thượng Viện, AJR 10 sẽ chuyển đến Hạ Viện Tiểu Bang. Để chứng minh với Quốc Hội sự quan tâm và tầm quan trọng của Nghị Quyết AJR 10 đối với Cộng Đồng Việt Nam nói chung và các Chiến Sĩ Quân Lực Việt Nam Cộng Hoà nói riêng, Dân Biểu Janet Nguyễn rất mong muốn chúng ta có được nhiều chữ ký ủng hộ để trao cho Uỷ Ban trước khi họ có quyết định về Nghị Quyết. Vì tình hình dịch bệnh, quý đồng hương không thể đích thân đến Uỷ Ban Điều Trần để kêu gọi ủng hộ cho AJR 10. Thế nên, Dân Biểu Janet Nguyễn kêu gọi quý đồng hương khắp nơi ký vào bản kiến nghị trên trang mạng http://baovecongdong.com để ủng hộ Nghị Quyết AJR

Posted in Thông Báo, Tin Cộng Đồng | Leave a comment